Skip to content
ssc.gov.vn
Hoạt động kỷ niệm
Chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng hiện hành
04/06/2020

Thực hiện Kế hoạch tuyên truyền Hội nghị Đại biểu điển hình tiên tiến của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước năm 2020 được Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phê duyệt và ban hành tại Quyết định số 342/QĐ-UBCK ngày 12 tháng 5 năm 2020,

Được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, hệ thống văn bản về thi đua khen thưởng hiện hành đã được ban hành khá đồng bộ và chi tiết. Tuy nhiên do được chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần nên còn khó khăn cho đại đa số công chức, viên chức và người lao động học tập, nghiên cứu và tổ chức thực hiện. Qua kinh nghiệm triển khai tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và giúp việc cho Hội đồng Thi đua Khen thưởng Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Vụ Tổ chức cán bộ tổng hợp khung khổ pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng đang được áp dụng như sau:

1. Về luật:

Luật thi đua, khen thưởng ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003. Đây là lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam có Luật Thi đua, Khen thưởng và việc đưa cả hai nội dung thi đua và khen thưởng vào trong cùng một bộ luật thể hiện rõ mối quan hệ biện chứng giữa thi đua và khen thưởng.

Tiếp theo, Luật được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 47/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005, Luật số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 và Luật số 39/2013/QH13 ngày 16 tháng 11 năm 2013.

Hiện nay, Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương đang tổ chức xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua Khen thưởng và dự kiến sẽ được Chính phủ trình Quốc hội trong năm 20211.

Danh hiệu thi đua là hình thức ghi nhận, biểu dương, tôn vinh cá nhân, tập thể có thành tích trong phong trào thi đua. Luật Thi đua, Khen thưởng quy định các danh hiệu thi đua gồm:

1. Danh hiệu thi đua đối với cá nhân (Chiến sĩ thi đua toàn quốc, Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, Chiến sĩ thi đua cơ sở, Lao động tiên tiến);

2. Danh hiệu thi đua đối với tập thể (Cờ thi đua của Chính phủ, Cờ thi đua cấp bộ, Tập thể lao động xuất sắc, Tập thể lao động tiên tiến; Thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa);

3. Danh hiệu thi đua đối với hộ gia đình (Gia đình văn hóa).

Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các hình thức khen thưởng gồm:

1. Huân chương (gồm 10 loại, trong đó Huân chương Sao vàng là huân chương cao quý nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đối với một số loại Huân chương còn được chia thành các hạng, thường gặp là Huân chương Lao động hạng nhất, hạng nhì, hạng ba);

2. Huy chương (gồm 4 loại, để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, nói riêng trong lực lượng vũ trang);

3. Danh hiệu vinh dự nhà nước (gồm 8 loại, thường gặp là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lao động, Nhà giáo/Nghệ sĩ/Nghệ nhân ưu tú/nhân dân...)

4. “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng nhà nước” (để tặng cho tác giả của một hoặc nhiều công trình, tác phẩm đã được công bố);

5. Kỷ niệm chương, Huy hiệu (Kỷ niệm chương hoặc Huy hiệu để tặng cho cá nhân có đóng góp vào quá trình phát triển của bộ, ban, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Huy hiệu để tặng cho cá nhân có đóng góp vào quá trình phát triển của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.)

6. Bằng khen (gồm 2 loại, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Bằng khen cấp bộ);

7. Giấy khen (gồm 5 loại).

2. Về Nghị định:

- Về quy định chung: Trước năm 2017, hệ thống Nghị định hướng dẫn về thi đua, khen thưởng bao gồm 03 văn bản, bao gồm Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng (thay thế Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2005); Nghị định số 39/2012/NĐ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ; Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013.

Ngày 31 tháng 7 năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2017/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng (gọi tắt là Nghị định 91), có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2017 và thay thế ba Nghị định nêu trên.

- Về mẫu hiện vật khen thưởng: theo Nghị định số 101/2018/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2018 và Nghị định số 85/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ quy định mẫu huân chương, huy chương, huy hiệu, kỷ niệm chương; mẫu bằng, khung, hộp, cờ của các hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua; quản lý, cấp phát, cấp đổi, cấp lại, thu hồi hiện vật khen thưởng.

- Về tổ chức trao tặng: theo Nghị định số 145/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định về tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua; nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài.

3. Về Thông tư:

Ngày 04 tháng 11 năm 2019, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 12/2019/TT-BNV quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng, thay thế cho Thông tư số 08/2017/TT-BNV ngày 27 tháng 10 năm 2017. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.

Có thể thấy, công tác thi đua, khen thưởng được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thể hiện qua việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện khung khổ pháp lý được tiến hành thường xuyên, liên tục qua các năm. Bên cạnh các văn bản quy định chung, đối với một số danh hiệu và hình thức khen thưởng, Chính phủ lại có hướng dẫn riêng (ví dụ đối với Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước; danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo nhân dân; danh hiệu Thầy thuốc ưu tú, Thầy thuốc nhân dân; danh hiệu Gia đình văn hóa...).

Đối với một số ngành, lĩnh vực hoặc địa phương, Bộ quản lý hoặc Ủy ban nhân dân ban hành hướng dẫn chi tiết áp dụng trong phạm vi ngành, địa phương mình trên cơ sở quy định của pháp luật. Ví dụ: Ủy ban nhân dân thành phố Hà nội ban hành Quyết định số 09/2020/QĐ-UBND ngày 28 tháng 4 năm 2020 về việc ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 17/2019/TT-NHNN ngày 31 tháng 10 năm 2019 hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng ngành Ngân hàng...

Đối với Bộ Tài chính, hiện nay chưa có Thông tư hướng dẫn về công tác thi đua khen thưởng trong ngành Tài chính (năm 2019, Bộ mới ban hành Thông tư số 17/2019/TT-BTC ngày 21 tháng 3 năm 2019 quy định xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Tài chính Việt Nam”). Thay vào đó, hằng năm, căn cứ quy định của pháp luật, Vụ Thi đua Khen thưởng - Bộ Tài chính, cơ quan tham mưu cho Bộ về công tác thi đua, khen thưởng, thừa lệnh Bộ trưởng ban hành Công văn hướng dẫn các đơn vị trong Bộ thực hiện tổng kết công tác thi đua, khen thưởng của năm đó. Ví dụ, Công văn số 14930/BTC-TĐKT ngày 09 tháng 12 năm 2019 hướng dẫn các đơn vị trong Bộ thực hiện tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2019. Công văn hướng dẫn của Bộ thường bao gồm các nội dung sau đây: đánh giá, tổng kết công tác thi đua, khen thưởng của năm; các quy định, hướng dẫn khi xét khen thưởng thành tích năm đó, cụ thể hướng dẫn về xét công nhận sáng kiến, quy định về các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng cấp Bộ (danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc, Cờ thi đua của Bộ Tài chính, danh hiệu Chiến sĩ thi đua ngành Tài chính và Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính); quy định về hồ sơ đề nghị khen thưởng; thời gian tiếp nhận hồ sơ khen thưởng và một số hướng dẫn khác.

Việc ban hành Công văn hướng dẫn có ưu điểm là kịp thời cập nhật các quy định mới khi văn bản quy phạm pháp luật thay đổi. Bên cạnh đó, Bộ chủ động có sự điều chỉnh khi có vấn đề vướng mắc phát sinh hoặc để phù hợp với mục tiêu, kế hoạch của năm tiếp theo. Tuy nhiên, cũng có một số nhược điểm như các đơn vị phải đợi có hướng dẫn để triển khai. Bên cạnh đó, do giới hạn của nội dung Công văn, nội dung hướng dẫn tương đối súc tích, chủ yếu nêu các điểm chính do vậy chỉ phù hợp đối với các cán bộ có kinh nghiệm, đã làm công tác này trước đây. Ví dụ, năm 2019, Bộ có thay đổi so với hướng dẫn năm 2018 ở cách tính tỉ lệ danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc trên tổng số tập thể được xét tặng danh hiệu Tập thể lao động tiên tiến; đối với tập thể không đề nghị đồng thời Cờ thi đua của Bộ Tài chính và Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính...

Do đặc thù về tổ chức bộ máy và số lượng biên chế không nhiều, hiện nay Ủy ban Chứng khoán Nhà nước không có nhân sự chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng mà làm việc theo nguyên tắc kiêm nhiệm. Để kịp thời tham mưu cho Hội đồng Thi đua Khen thưởng và lãnh đạo các cấp trong chỉ đạo, triển khai công tác thi đua khen thưởng tại đơn vị, đội ngũ cán bộ phụ trách thi đua, khen thưởng tại mỗi đơn vị thuộc và trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần tiếp tục cố gắng nghiên cứu, học tập các quy định của pháp luật liên quan. Bên cạnh đó, đối với mỗi công chức, viên chức cần hiểu và nắm được các thông tin cơ bản về thi đua, khen thưởng để phục vụ cho công việc và chính bản thân mình, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”.

1 http://baochinhphu.vn/thoi-su/ubtvqh-cho-y-kien-ve-chuong-trinh-xay-dung-luat-phap-lenh/393654.vgp

Các tin khác