Skip to content
ssc.gov.vn
Chương trình - đề tài nghiên cứu khoa học
Tóm tắt kết quả các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp ủy ban năm 2019
20/11/2020

TÓM TẮT NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CẤP ỦY BAN NĂM 2019

I. TÓM TẮT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI

1. ĐỀ TÀI UB.19.01: Cơ chế quản lý, giám sát giao dịch tần suất cao trong lĩnh vực chứng khoán: Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam

Chủ nhiệm đề tài:  Thạc sỹ Nguyễn Thị Khánh Ly

Đơn vị chủ trì:   Vụ Phát triển thị trường

1.1. Kết cấu đề tài: Đề tài gồm 02 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về cơ chế quản lý, giám sát giao dịch tần suất cao trong lĩnh vực chứng khoán

Chương II: Đề xuất cơ chế quản lý, giám sát giao dịch tần suất cao trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam

1.2. Đóng góp của đề tài

Với sự phát triển của công nghệ máy tính, các ứng dụng thuật toán máy tính đã được đưa vào áp dụng trong lĩnh vực tài chính nói chung và TTCK nói riêng. Giao dịch tần suất cao (High Frequency Trading) là một hình thức giao dịch thuật toán đã có sự phát triển nhanh và mạnh trên thế giới trong vài thập kỷ qua.

Trong Chương 1, bên cạnh việc tổng hợp các quan điểm và cách hiểu phổ biến về HFT của một số tổ chức quốc tế và cơ quan quản lý thị trường tài chính/chứng khoán nước ngoài để đưa ra một khái niệm chung về HFT; đề tài đã chỉ rõ những đặc điểm nổi bật của HFT. Từ đó, các tác giả phân tích những lợi ích mà loại giao dịch này có thể mang lại cho các nhà đầu tư, các công ty thực hiện HFT và nhất là với TTCK nói chung. Tuy nhiên, HFT cũng tiềm ẩn không ít rủi ro cho thị trường (rủi ro thao túng, rủi ro hệ thống, rủi ro hoạt động – với dẫn chứng cụ thể là những sự kiện đã từng diễn ra trong thực tế tại Mỹ và Nhật Bản), cho thành viên thị trường và cả nhà đầu tư.

Chương này cũng tập trung vào một nội dung quan trọng khác là nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quản lý, giám sát giao dịch HFT. Bên cạnh những thị trường phát triển như Mỹ và châu Âu, kinh nghiệm của một quốc gia châu Á như Ấn Độ, Thái Lan và Singapore cũng được phân tích cụ thể; qua đó rút ra những bài học có ý nghĩa có ý nghĩa cho cơ quan quản lý TTCK và sở GDCK.

Một đóng góp mới của đề tài là việc đánh giá khả năng phát triển HFT trên TTCK Việt Nam và khả năng quản lý, giám sát loại giao dịch này theo mô hình SWOT (điểm mạnh – điểm yếu – cơ hội – thách thức). Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp về cơ chế quản lý, giám sát giao dịch tần suất cao trong lĩnh vực chứng khoán, trong đó đáng chú ý là việc bổ sung, hoàn thiện quy định pháp lý cụ thể về HFT. Đồng thời, các khía cạnh quản lý, giám sát được chi tiết hóa đến quản lý đăng ký/cấp phép giao dịch HFT; quản lý, giám sát công bố thông tin; giám sát giao dịch và giám sát tuân thủ giao dịch HFT. Đặc biệt, đề tài nhấn mạnh sự phân định vai trò giữa cơ quan quản lý (UBCKNN) và sở GDCK để đảm bảo hiệu quả trong công tác quản lý, giám sát và đưa ra một số đề xuất có tính chất hỗ trợ như các chính sách về phí giao dịch HFT và phát triển đa dạng sản phẩm chứng khoán và CKPS hay tăng cường hoạt động đào tạo, tuyên truyền và nâng cao nhận thức về HFT cho cả cán bộ quản lý, nhân viên giao dịch tại công ty chứng khoán và công chúng đầu tư.

2. ĐỀ TÀI UB.19.02: Quản lý, giám sát hoạt động huy động vốn ICO (innitial coin offering) – kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam.

Chủ nhiệm đề tài:   Thạc sỹ Bùi Hoàng Hải

Đơn vị chủ trì :   Tổ Fintech UBCKNN

2.1. Kết cấu đề tài: Đề tài gồm 03 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý giám sát hoạt động phát hành tiền mã hóa (ICO) để huy động vốn.

Chương II: Thực trạng quản lý, giám sát hoạt động huy động của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Chương III: Khuyến nghị giải pháp để quản lý hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp thông qua phát hành tiền mã hóa.

2.2. Đóng góp của đề tài

Trong Chương I đề tài đã làm rõ các khái niệm về tiền mã hóa và token số, chào bán tiền mã hóa lần đầu (ICO) và chào bán token chứng khoán (STO). Đối với hoạt động ICO, những điểm khác biệt giữa ICO và huy động vốn cộng đồng (về sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền, phạm vi huy động vốn và sản phẩm đầu ra của dự án phát triển từ vốn huy động được) hay giữa ICO và chào bán chứng khoán ra công chúng lần đầu (về quyền sở hữu, điều kiện phát hành và các vấn đề liên quan định giá) đã được phân tích, làm rõ. Liên quan đến STO, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra nhiều lợi ích của phương thức huy động vốn này cũng như những ưu điểm của nó so với ICO; đồng thời nhấn mạnh những vấn đề cần lưu ý đối với hoạt động STO (như khâu xác định và định giá tài sản, cấu trúc và quản trị doanh nghiệp, tuân thủ các yêu cầu về KYC và ALM...) và các thách thức còn hiện hữu. Bên cạnh đó, những nghiên cứu về kinh nghiệm các nước trong quản lý hoạt động ICO và STO là một đóng góp đáng chú ý khác trong chương 1 của đề tài với nhiều tình huống nghiên cứu đa dạng, từ những thị trường phát triển trên thế giới (Mỹ, EU, Úc, Nhật Bản) đến các nước trong khu vực (Trung Quốc, Thái Lan).

Chương 2 của đề tài tập trung phân tích thực trạng công tác quản lý, giám sát hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, trong đó có đánh giá khung pháp lý liên quan đến tiền mã hóa và phát hành tiền mã hóa (trên hai lĩnh vực: pháp luật quản lý hoạt động chào bán tiền mã hóa để huy động vốn và pháp luật quản lý hoạt động tổ chức giao dịch). Một số trường hợp điển hình về huy động vốn thông qua ICO cũng được nhóm nghiên cứu khảo sát cụ thể, từ đó đưa ra những nhận định về các khó khăn vướng mắc về mặt pháp lý và công nghệ khi triển khai ICO của doanh nghiệp.

Trên nền tảng nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn ở hai chương đầu, các tác giả đề tài đưa ra những khuyến nghị giải pháp để quản lý hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp thông qua phát hành tiền mã hóa trong chương 3. Ba nhóm vấn đề chính được đề cập là: (i) quản lý, giám sát giao dịch tiền mã hóa phi chứng khoán; (ii) phát triển và quản lý hoạt động token hóa chứng khoán (trong đó bao gồm việc phát triển nền tảng hỗ trợ giao dịch dựa trên công nghệ chuỗi khối – blockchain – đối với thị trường cổ phiếu); và (iii) chính sách và khung pháp lý đối với việc xử lý sau giao dịch của tài sản mã hóa (từ yêu cầu xây dựng khung pháp lý rõ ràng đến cơ chế quản trị, hệ thống và quy trình quản lý rủi ro có thể xác định được; hay các quy tắc và quy trình trong phát hành, lưu ký và thực hiện dịch vụ tài sản đối với token chứng khoán). Một số đề xuất, kiến nghị chi tiết cũng đã được nêu ra nhằm hỗ trợ và thúc đẩy việc triển khai các giải pháp được khuyến nghị trong đề tài.

3. ĐỀ TÀI UB.19.03: Xây dựng công cụ thống kê, phân tích toàn thị trường Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Chủ nhiệm đề tài: Tiến sỹ Nguyễn Thế Thọ

Đơn vị chủ trì:   Vụ Giám sát thị trường

3.1. Kết cấu đề tài: Đề tài gồm 03 chương

Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động thống kê hoạt động toàn thị trường chứng khoán.

Chương II: Thực trạng công tác thống kê thị trường chứng khoán tại UBCKNN.

Chương III: Xây dựng công cụ thống kê, phân tích tại UBCKNN.

3.2. Đóng góp của đề tài

Chương I đề tài làm rõ sự cần thiết của công tác thống kê, phân tích và dự báo đối với một cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK, đặc biệt trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay. Bên cạnh việc tổng hợp tóm tắt các mô hình đo lường, đánh giá và dự báo cho thị trường tài chính, nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế trong hoạt động thống kê TTCK của các cơ quan quản lý tại hai thị trường gồm Mỹ, Malaysia và rút ra một số bài học thực tiễn cho Việt Nam. Những bài học kinh nghiệm này và các nguyên tắc, nội dung căn bản của hoạt động thống kê TTCK là nền tảng tham chiếu cho việc xây dựng công cụ thống kê, phân tích thị trường tại UBCKNN.

Trong chương 2, đề tài đánh giá thực trạng công tác thống kê TTCK tại UBCKNN - tập trung vào hoạt động thống kê báo cáo, quan hệ phối hợp thực hiện công tác thống kê, phân tích tại Ủy ban – cũng như thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thống kê, phân tích. Dựa trên tình hình thực tế được đề cập, nhóm nghiên cứu chỉ ra những vấn đề tồn tại cần được hoàn thiện liên quan đến công cụ thống kê, phân tích của UBCKNN.

Giải pháp để khắc phục những điểm tồn tại đó được đưa ra trong chương 3 của đề tài. Nhóm tác giả mô tả các nội dung phân tích diễn biến giao dịch trên thị trường; nội dung tự động hóa hoạt động thống kê, phân tích; đồng thời đề xuất triển khai một số mô hình dự báo phục vụ công tác quản lý của UBCKNN trên cơ sở nâng cấp cơ sở dữ liệu và chuẩn hóa các dữ liệu cần thiết phục vụ hoạt động nghiệp vụ của cơ quan.

4. ĐỀ TÀI UB.19.04: Cơ chế quản lý đối với các công ty chứng khoán trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ Trần Thị Thu Hiền

Đơn vị chủ trì:   Vụ Quản lý kinh doanh

4.1. Kết cấu đề tài:   Đề tài gồm 03 chương:

Chương I: Các mạng công nghiệp lần thứ 4 và các tác động đến nền kinh tế.

Chương II: Xu hướng phát triển của dịch vụ chứng khoán và mô hình kinh doanh của công ty chứng khoán dưới tác động của CMCN lần thứ tư.

Chương III: Thách thức trong cơ chế quản lý, giám sát công ty chứng khoán và một số khuyến nghị.

4.2. Đóng góp của đề tài

Chương I của đề tài trình bày những vấn đề khái quát về cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), trong đó nêu bật những tác động mà cuộc cách mạng công nghiệp lần này có thể đem đến cho nền kinh tế toàn cầu nói cung và TTCK nói riêng. Về tổng thể, sự phát triển của các quốc gia, tăng trưởng kinh tế, mô hình kinh doanh và thị trường lao động là những yếu tố được dự báo là sẽ chịu những ảnh hưởng sâu sắc dẫn đến những thay đổi, dịch chuyển mạnh mẽ. Với thị trường chứng khoán, những khía cạnh đã chịu sự tác động cho đến nay bao gồm: (i) cơ sở hạ tầng của thị trường, cách thức giao dịch và an toàn, an ninh trên thị trường; và (ii) các tổ chức trung gian và sản phẩm giao dịch. Kết quả là thị trường đã chứng kiến sự xuất hiện của những mô hình kinh doanh tự tối ưu hóa, những nhà cung cấp thanh khoản điện tử (ELPs), sự ứng dụng ngày càng rộng rãi công nghệ số (APIs, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo...). Trong tương lai, công nghệ tài chính (fintech) sẽ tiếp tục phát triển và giúp đa dạng hóa cũng như nâng cấp các sản phẩm, dịch vụ trên TTCK lên một mức độ cao hơn với những ưu điểm nổi bật về trải nghiệm của khách hàng, tối ưu hóa chi phí...

Trong chương 2, nhóm nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ kinh doanh chứng khoán dựa trên nền tảng công nghệ 4.0 ở Việt Nam; tập trung vào những vấn đề như hệ thống giao dịch của công ty chứng khoán và các sản phẩm/dịch vụ cung cấp trên TTCK (các trang web so sánh, dịch vụ tư vấn tự động, nền tảng giao dịch và đầu tư xã hội...). Một số điểm vướng mắc cần tháo gỡ nhằm tạo điều kiện thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong hoạt động chứng khoán được chỉ rõ liên quan đến hạ tầng cơ bản, hạ tầng kỹ thuật, phòng chống rửa tiền, bảo mật thông tin và bảo vệ khách hàng. Bên cạnh đó, đề tài cũng phân tích những cơ hội và thách thức đặt ra với các công ty chứng khoán trong việc chuyển đổi mô hình kinh doanh trong bối cảnh sự thay đổi mô hình kinh doanh truyền thống trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính đã trở thành xu hướng.

Dựa trên những nhận định về cơ hội và thách thức của CMCN 4.0 đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán, ở chương 3, đề tài đưa ra một số khuyến nghị nhằm định hướng cơ chế quản lý, giám sát công ty chứng khoán trong điều kiện CMCN lần thứ 4 và định hướng phát triển công nghệ hỗ trợ cho phát triển dịch vụ chứng khoán. Các khuyến nghị đối với cơ quan quản lý thị trường xoay quanh các nội dung: hoàn thiện hệ thống hạ tầng công nghệ giao dịch, xây dựng khung khổ pháp lý và quản lý phù hợp, cách thức quản lý/giám sát, công tác cấp phép và cơ chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo (với các hình thức cụ thể gồm trung tâm đổi mới sáng tạo - “innovation hub”, tổ chức thúc đẩy khởi nghiệp – “accelerators” và khung pháp lý thử nghiệm – “relulatory sandbox”).

5. ĐỀ TÀI UB.19.05: Giám sát giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số

Chủ nhiệm đề tài: Ông Lê Nguyễn Trung Thanh

Đơn vị chủ trì:   Vụ Giám sát thị trường

5.1. Kết cấu đề tài: Đề tài gồm 03 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát phái sinh

Chương II: Thực trạng công tác giám sát giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số.

Chương III: Một số giải pháp về hoạt động giám sát hợp đồng tương lai chỉ số.

5.2. Đóng góp của đề tài

Trong chương I, xuất phát từ việc phân tích bản chất của hợp đồng tương lai chỉ số và mối liên hệ giữa hợp đồng tương lai chỉ số với tài sản cơ sở, đề tài làm rõ cơ sở thực hiện hoạt động giám sát giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số trên ba khía cạnh: (i) cơ sở pháp lý (quy định của pháp luật về các hành vi bị cấm trong giao dịch CKPS, khung pháp lý về giao dịch thao túng và giao dịch nội gián); (ii) cơ sở chuyên môn (hệ thống tiêu chí giám sát xác định các hoạt động giao dịch có dấu hiệu bất thường đối với hợp đồng tương lai chỉ số và bộ tiêu chí giám sát liên thị trường); (iii) cơ sở công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, các tác giả cũng nghiên cứu kinh nghiệm giám sát giao dịch sản phẩm hợp đồng tương lai chỉ số của một số thị trường trong khu vực châu Á (Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản), từ đó rút ra các khuyến nghị cho TTCK Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng mô hình giám sát cần phù hợp với đặc thù sản phẩm, quy mô và tổ chức thị trường CKPS nói riêng, TTCK nói chung; cũng như hệ thống tiêu chí giám sát cần phù hợp điều kiện phát triển của thị trường với hệ thống công nghệ thông tin hiện đại hỗ trợ giám sát giao dịch tự động để theo kịp diễn biến trên thị trường.

Chương 2 tập trung đánh giá thực trạng công tác giám sát giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số ở Việt Nam ở hai cấp – Sở GDCK Hà Nội và UBCKNN. Tại Sở GDCK Hà Nội, hoạt động giám sát được thực hiện dựa trên bộ tiêu chí gồm 5 nội dung chính, áp dụng phương pháp giám sát thường xuyên; kết hợp giám sát giao dịch với giám sát tuân thủ. Đối với UBCKNN, bên cạnh việc mô tả các nội dung giám sát giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số ở đơn vị giám sát tuyến hai, đề tài cũng đưa ra những nhận định cụ thể về thực trạng hệ thống công nghệ thông tin và nhân sự thực hiện công tác giám sát. Từ những đánh giá thực tiễn này, nhóm nghiên cứu chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác giám sát giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số liên quan đến khung pháp lý, hệ thống tiêu chí giám sát, phương pháp và kỹ thuật giám sát cùng hệ thống công nghệ thông tin.

Dựa vào những phân tích ở chương 1 và chương 2, đề tài đề xuất một số giải pháp cho hoạt động giám sát hợp đồng tương lai chỉ số. Để khắc phục những vấn đề còn tồn tại, các vấn đề như bộ tiêu chí giám sát, phương pháp giám sát và kỹ thuật phân tích giao dịch CKPS, hệ thống công nghệ thông tin phục cụ công tác giám sát cần được tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp. Ngoài ra, nhân lực thực hiện giám sát cũng cần được không ngừng chú trọng đào tạo và tự chủ động trau dồi kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng của công tác giám sát giao dịch (CKPS nói chung, hợp đồng tương lai chỉ số nói riêng) này.


II. TÓM TẮT KẾT QUẢ CHUYÊN ĐỀ

CHUYÊN ĐỀ CĐ.19.01: Ứng dụng của công nghệ Blockchain (chuỗi khối) trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chủ nhiệm:   Thạc sỹ Nguyễn Anh Dũng

Đơn vị chủ trì:   Cục Công nghệ thông tin

1.1. Kết cấu chuyên đề: Chuyên đề gồm 02 chương:

Chương 1: Tổng quan về công nghệ Blockchain

Chương 2: Ứng dụng công nghệ Blockchain trên thị trường chứng khoán và đề xuất cho Việt Nam.

1.2. Đóng góp của chuyên đề

Trong chương 1, chuyên đề đã trình bày quá trình hình thành và phát triển, cách thức vận hành của công nghệ chuỗi khối cũng như những vấn đề căn bản khác về công nghệ này. Là một dạng của công nghệ sổ cái phân tán (DLT) với ba nhân tố cấu thành chính là mạng ngang hàng, mật mã khóa công khai và cơ chế đồng thuận, công nghệ chuối khối có nhiều ưu điểm vượt trội (như khả năng xác thực thông tin nhanh, chính xác, giảm rủi ro đối tác, khả năng bảo mật vượt trội...) song cũng còn những nhược điểm cần được khắc phục (hiệu năng kém, độ phức tạp cao, khả năng mở rộng hạn chế...). Mặc dầu vậy, đây là một công nghệ nhiều tiềm năng và có khả năng ứng dụng đa dạng trong nền kinh tế nói chung, khu vực dịch vụ tài chính nói riêng – trong đó đáng chú ý là ứng dụng trong phòng chống rửa tiền (AML) và định danh khách hàng (KYC), thương mại quốc tế và thanh toán quốc tế.

Đối với thị trường chứng khoán, việc ứng dụng công nghệ chuỗi khối đã và đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, một vài trong số đó được đề cập ở phần đầu chương 2 (Trung Quốc, Úc, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc và Mỹ). Từ những trường hợp điển hình này, các tác giả đưa ra đánh giá về mức độ ứng dụng công nghệ chuỗi khối trong một số lĩnh vực khác nhau của thị trường, gồm: định danh/xác thực người dùng, hoạt động giao dịch chứng khoán, xử lý sau giao dịch, bỏ phiếu điện tử (e-voting) và giao dịch liên thị trường. Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra ba cách thức tiếp cận khác nhau của cơ quan quản lý đối với việc ứng dụng công nghệ chuỗi khối trên TTCK – hướng tiếp cận thận trọng, hướng tiếp cận theo lối thử nghiệm và hướng tiếp cận toàn diện; trong đó hướng tiếp cận thử nghiệm được xem là phù hợp cho Việt Nam.

Mặc dù vẫn còn những thách thức không nhỏ về mặt pháp lý và kỹ thuật, song với khuyến nghị như vậy, đề tài đã đề xuất ba lĩnh vực có thể nghiên cứu để ứng dụng công nghệ chuỗi khối trên TTCK trong nước thời gian trước mắt; đó là công bố thông tin, định danh khách hàng điện tử (eKYC) và bỏ phiếu điện tử (e-voting).

CHUYÊN ĐỀ CĐ.19.02: Nâng cao trách nhiệm xã hội của các tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chủ nhiệm:   Tiến sỹ Nguyễn Thanh Huyền

Đơn vị chủ trì:   Tạp Chí chứng khoán

1.1. Kết cấu chuyên đề: Chuyên đề gồm 02 chương:

Chương 1: Tổng quan và kinh nghiệm quốc tế về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện để nâng cao trách nhiệm xã hội của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

1.2. Đóng góp của chuyên đề:

Trong chương 1, chuyên đề đã hệ thống hóa được khái niệm và các yếu tố tác động đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Các tác giả cũng làm rõ vai trò của các bên liên quan đến việc thực hành trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, bao gồm từ chính phủ, cơ quan quản lý, sở giao dịch chứng khoán đến bản thân tổ chức niêm yết. Kinh nghiệm của một số quốc gia và khu vực (Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan) trong việc thúc đẩy và hướng dẫn doanh nghiệp thực hành trách nhiệm xã hội cũng được tìm hiểu, phân tích; từ đó rút ra những điểm cần lưu ý đối với những nước đi sau như Việt Nam.

Chương 2 tập trung đánh giá tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam thời gian qua cũng như một số vấn đề về khung pháp lý liên quan. Xuất phát từ thực tế việc thực hiện trách nhiệm xã hội đã và đang trở thành xu thế trên toàn cầu và ngay cả ở Việt Nam. Chuyên đề đưa ra các khuyến nghị nhằm phát triển trách nhiệm này ở các tổ chức niêm yết. Các khuyến nghị được nêu cụ thể cho doanh nghiệp, cơ quan quản lý TTCK và sở GDCK.

CHUYÊN ĐỀ CĐ.19.03: Xây dựng và áp dụng bộ chỉ số về chất lượng kiểm toán trong lĩnh vực chứng khoán

Chủ nhiệm:   Thạc sỹ Trần Anh Tâm

Đơn vị chủ trì:   Vụ Giám sát Công ty đại chúng

1.1. Kết cấu chuyên đề: Chuyên đề gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán.

Chương 2: Thực trạng đánh giá chất lượng kiểm toán trong lĩnh vực chứng khoán và xây dựng bộ chỉ số chất lượng kiểm toán tại Việt Nam.

Chương 3: Phương hướng xây dựng và vận dụng Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam.

1.2. Đóng góp của chuyên đề

Chương 1 của chuyên đề hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về bộ chỉ số chất lượng kiểm toán, từ những yêu cầu đối với bộ chỉ số, ý nghĩa của việc sử dụng bộ chỉ số đối với các bên liên quan (đơn vị được kiểm toán, doanh nghiệp được chấp thuận kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán, nhà đầu tư và cơ quan quản lý), đến nội dung và quy trình xây dựng, vận dụng bộ chỉ số. Một số bài học hữu ích cho Việt Nam đã được rút ra trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và vận dụng bộ chỉ số kiểm toán (với một số quốc gia được chọn như Singapore, Canada, Mỹ).

Dựa trên những mô tả về các hình thức đánh giá chất lượng kiểm toán tại Việt Nam hiện nay, nhóm nghiên cứu chỉ ra những điểm hạn chế trong công tác này, dù việc đánh giá chất lượng do cơ quan quản lý nhà nước hay doanh nghiệp kiểm toán thực hiện. Với thực trạng hiện tại, việc nghiên cứu và xây dựng bộ chỉ số chất lượng kiểm toán được cho là giải pháp hiệu quả để bổ sung, hỗ trợ các hình thức đánh giá chất lượng kiểm toán hiện có và khắc phục các điểm hạn chế hiện thời.

Với quan điểm như vậy, ở chương 3, các tác giả trình bày những nguyên tắc chung và yêu cầu của việc xây dựng, áp dụng bộ chỉ số chất lượng kiểm toán. Những đề xuất cụ thể cũng được nêu ra, trong đó đáng chú ý là nội dung bộ chỉ số chất lượng kiểm toán gồm 8 chỉ số thành phần. Đây là những chỉ số đã được nhiều tổ chức liên quan trên thế giới ban hành hoặc đề xuất ban hành; phần nhiều trong đó có thể lượng hóa được và không quá phức tạp khi tính toán. Mặc dù còn là vấn đề khá mới và mới ở giai đoạn nghiên cứu ban đầu, khuyến nghị của chuyên đề cũng có giá trị tham khảo hữu ích và có ý nghĩa thực tiễn nhất định đối với cơ quan quản lý trong bối cảnh TTCK phát triển ngày càng phức tạp hơn.

Các tin khác