Skip to content
ssc.gov.vn
Chương trình - đề tài nghiên cứu khoa học
Giới thiệu các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp ủy ban năm 2019
20/11/2020

GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CẤP ỦY BAN NĂM 2019

I. ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1. Đề tài UB.19.01: “Cơ chế quản lý, giám sát giao dịch tần suất cao trong lĩnh vực chứng khoán: Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam”

Chủ nhiệm đề tài:   Thạc sỹ Nguyễn Thị Khánh Ly

Đơn vị chủ trì:     Vụ Phát triển thị trường

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Giao dịch tần suất cao (HFT- high frequency trading) là một loại giao dịch thuật toán (AT - algorithmic trading). Về bản chất, giao dịch tần suất cao là việc thực hiện các giao dịch chứng khoán theo một chiến lược giao dịch có sẵn, sử dụng các mô hình toán học và công thức tiên tiến, phức tạp nhằm đưa ra những quyết định đầu tư với lệnh giao dịch ở tốc độ cao trên thị trường tài chính. Trong đó, HFT đặc trưng bởi tốc độ và tần suất giao dịch liên tục, theo cách rút ngắn triệt để vị thế nắm giữ (sở hữu) chứng khoán nhằm tìm kiếm mức lợi nhuận khiêm tốn trong khoảng thời gian rất ngắn.

HFT được áp dụng sớm nhất vào năm 1999 sau khi Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán của Hoa Kỳ (SEC) cho phép áp dụng giao dịch điện tử năm 1998. Vào thời điểm HFT bắt đầu phát triển, tần suất giao dịch là vài giây, nhưng đến thời điểm hiện nay khoảng thời gian này đã giảm xuống đáng kể, chỉ còn một phần nghìn thậm chí là một phần triệu giây. HFT mới đầu chỉ phát triển ở Mỹ, sau này đã lan rộng sang thị trường tài chính các nước châu Âu, châu Á. Ngày nay, HFT đã trở thành một thuật ngữ khá phổ biến, một xu hướng phát triển ở những thị trường tài chính lớn trên thế giới dựa trên nền tảng hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại và tự động hóa.

Có thể thấy, HFT đem lại những lợi ích rất lớn cho thị trường như gia tăng tính thanh khoản, giảm sự biến động về giá và khối lượng, và trước hết là lợi ích đối với các các nhà giao dịch sử dụng HFT. Khi nhà giao dịch sử dụng HFT là các tổ chức cung ứng dịch vụ, tốc độ xử lý giao dịch nhanh cùng chi phí giao dịch thấp là lợi thế cạnh tranh để hấp dẫn các nhà đầu tư; còn khi họ là các tổ chức đầu tư thì chiến lược HFT đem đến nhiều cơ hội kinh doanh, kiếm lời… Tuy nhiên, HFT cũng tạo ra những cạnh tranh thiếu bình đẳng trên thị trường, gây khó khăn cho những tổ chức nhỏ chưa có đủ tiềm lực tài chính để trang bị một hạ tầng công nghệ hiện đại. Bên cạnh đó, HFT đặt ra áp lực cho cơ quan quản lý trong hoạt động giám sát. Hệ thống giám sát phải đủ khả năng để quản lý và giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định pháp luật của các nhà giao dịch tần suất cao, ngăn chặn các hành vi thao túng giá gây lũng đoạn thị trường.

Tại Việt Nam, HFT mới manh nha ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên, cũng như các TTCK khác trên thế giới, việc sử dụng HFT đang làm dấy lên quan ngại về nguy cơ tạo ra sự thiếu công bằng trong quá trình cạnh tranh giữa các CTCK; tạo ra sự “thua thiệt” cho các nhà đầu tư nhỏ, không có khả năng sử dụng các mô hình thuật toán tinh vi, phức tạp và công nghệ cao. Việc sử dụng HFT không có quản lý cũng sẽ tiềm ẩn rủi ro hệ thống, gây bất ổn trên TTCK như sự kiện sụt giảm chỉ số Down Jone của Mỹ năm 2010.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- Làm rõ khái niệm, đặc điểm của HFT và các chiến lược giao dịch HFT.

- Rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm quốc tế về phát triển HFT và cơ chế, chính sách quản lý HFT.

- Đánh giá khả năng phát triển HFT trong tương lai tại Việt Nam thông qua mô hình SWOT (phân tích điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức); từ đó đề xuất giải pháp về cơ chế chính sách cho HFT trên thị trường chứng khoán.

1.3 Nội dung đề tài:

Chương I: Cơ sở lý luận về cơ chế quản lý, giám sát giao dịch tần suất cao trong lĩnh vực chứng khoán

Chương II: Đề xuất cơ chế quản lý, giám sát giao dịch tần suất cao trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam.

2. Đề tài UB.19.02: “Quản lý, giám sát hoạt động huy động vốn ICO (innitial coin offering) – kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam”.

Chủ nhiệm đề tài:   Thạc sỹ Bùi Hoàng Hải

Đơn vị chủ trì :   Tổ Fintech UBCKNN

2.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Hoạt động chào bán lần đầu tiền mã hóa (initial coin offering - ICO) là việc huy động vốn cho một dự án công nghệ chuỗi khối (blockchain) thông qua internet và các nền tảng cộng đồng (platforms). Những năm gần đây, trên nền tảng công nghệ blockchain và hợp đồng thông minh, các dự án chào bán tiền mã hóa để huy động vốn tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô và phạm vi ảnh hưởng. Năm 2016, 90 triệu USD được huy động thông qua các đợt ICO, năm 2017 giá trị này tăng lên đạt khoảng 4 tỷ USD, và chỉ trong Quý 1 năm 2018 đạt hơn 5 tỷ USD1. Hoạt động chào bán tiền mã hóa dạng token liên quan đến nhiều ngành nghề, lĩnh vực như tài chính ngân hàng, giao thông vận tải, thương mại, giáo dục, y tế... Sự phổ biến của các hoạt động ICO đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới, cũng như đặt các cơ quan quản lý thị trường tài chính tiền tệ trước nhiều thách thức. ICO một mặt là hình thức huy động vốn mới, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, nhưng mặt khác đang làm phát sinh nhiều thách thức trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính của từng quốc gia cũng như trong vấn đề bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

Đối với Việt Nam, trong những năm gần đây, nhu cầu đầu tư vào tiền mã hóa tăng mạnh (hiện tại có trên 74.000 tài khoản đăng ký giao dịch tại các sàn giao dịch tiền ảo trên thế giới2, tại thời điểm cao điểm của thị trường, nhà đầu tư Việt Nam giao dịch trung bình khoảng 10 triệu USD/ngày. Đến thời điểm 30/4/2018, 15.600 máy khai thác tiền ảo3 đã được nhập về). Đồng thời, nhu cầu phát hành tiền mã hóa để huy động vốn cho các dự án công nghệ tăng theo xu hướng chung của thế giới và phù hợp chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp trong giai đoạn cách mạng công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, khung pháp lý về quản lý tiền mã hóa và hoạt động phát hành tiền mã hóa tại Việt Nam hầu như chưa tồn tại, tạo kẽ hở cho các hoạt động phát hành tiền ảo, tiền mã hóa nằm ngoài khuôn khổ quản lý của nhà nước và xuất hiện hiện tượng lừa đảo. Xuất phát từ thực tế này, Chính phủ đã đề nghị các cơ quan quản lý liên quan nhanh chóng tìm kiếm giải pháp phù hợp để quản lý một cách hiệu quả thị trường giao dịch tiền ảo nói chung và hoạt động phát hành tiền ảo nói riêng.

Với tư cách là cơ quan quản lý thị trường chứng khoán, việc tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong quản lý, giám sát hoạt động ICO, đánh giá điều kiện áp dụng và đề xuất giải pháp để quản lý đối vối hoạt động này tại thị trường chứng khoán Việt Nam là nhiệm vụ có ý nghĩa cấp thiết của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tạo tiền đề xây dựng khung khổ pháp lý hỗ trợ tổ chức, cá nhân có nhu cầu trong việc huy động vốn thông qua hoạt động ICO, đồng thời tạo lập các công cụ cần thiết để bảo vệ nhà đầu tư tham gia đầu tư giao dịch sản phẩm tiền mã hóa.

2.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- Đánh giá bản chất kinh tế của tiền mã hóa và hoạt động động phát hành tiền mã hóa dưới hình thức ICO.

- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc quản lý, giám sát hoạt động ICO.

- Đánh giá thực trạng pháp lý tại Việt Nam trong quản lý tiền ảo và hoạt động ICO.

- Đề xuất giải pháp để quản lý, giám sát hoạt động phát hành tiền mã hóa qua ICO tại Việt Nam.

2.3 Nội dung đề tài:

Chương I: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý giám sát hoạt động phát hành tiền mã hóa (ICO) để huy động vốn.

Chương II: Thực trạng quản lý, giám sát hoạt động huy động của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Chương III: Khuyến nghị giải pháp để quản lý hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp thông qua phát hành tiền mã hóa.

3. ĐỀ TÀI UB.19.03: “Xây dựng công cụ thống kê, phân tích toàn thị trường Ủy ban Chứng khoán Nhà nước”

Chủ nhiệm đề tài:   Tiến sỹ Nguyễn Thế Thọ

Đơn vị chủ trì:   Vụ Giám sát thị trường

3.1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác thống kê, phân tích dự báo luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; phục vụ trực tiếp cho hoạt động quản lý, điều hành của Lãnh đạo UBCKNN, đặc biệt là trong giai đoạn thị trường chứng khoán có nhiều biến động do các yếu tố khách quan từ nền kinh tế và yếu tố chủ quan từ sự vận động nội tại của thị trường.

Hiệu quả của hoạt động thống kê phụ thuộc chủ yếu vào nguồn dữ liệu và phương pháp tiếp cận, xử lý số liệu nhằm đưa ra các số liệu thống kê đa chiều đối với từng nội dung hoạt động của thị trường; từ đó, công tác phân tích, dự báo được thực hiện một cách toàn diện và đầy đủ làm cơ sở tham mưu cho Lãnh đạo UBCKNN các biện pháp điều hành phù hợp với diễn biến của thị trường chứng khoán.

Trên thực tế, hiện nay, công tác thống kê, phân tích - dự báo đã được chú trọng, nội dung thống kê đã bao phủ tương đối toàn diện các mặt của TTCK. Nhiệm vụ tổng hợp, thống kê đã được củng cố về số lượng và chiều sâu như bộ phận thống kê thị trường thuộc Cục Công nghệ thông tin và phòng Phân tích dự báo thuộc Văn phòng UBCKNN. Tuy nhiên, do điều kiện về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện tại của UBCKNN, đã có các cơ sở dữ liệu về giao dịch (MSS), công ty niêm yết (IDS), công ty chứng khoán (SCMS), quỹ và công ty quản lý quỹ (FMS) nhưng chưa có công cụ tổng hợp dữ liệu từ các nguồn này. Hoạt động thống kê hiện mới chỉ dừng ở mức độ thống kê theo nhóm dẫn đầu (TOP) thị trường, chưa có thuật toán so sánh và thống kê chi tiết giao dịch theo loại hình, nguồn gốc nhà đầu tư và so sánh trong từng khoảng thời gian như tuần, tháng, quý, 6 tháng; do đó, chưa đưa ra được các số liệu về tổng quan diễn biến thị trường. Cán bộ được giao nhiệm vụ của các đơn vị vẫn phải thực hiện công tác phân tích, thống kê thủ công với khối lượng dữ liệu giao dịch rất lớn (từ 10 triệu đến 15 triệu dòng tính trong thời gian 6 tháng). Ngoài ra, do chưa khai thác được dữ liệu tổng quan thị trường của các sở giao dịch gửi nên việc thực hiện công tác thống kê, tổng hợp còn phải sử dụng thông tin từ các trang thông tin điện tử, dẫn đến chưa đảm bảo được tiến độ và tính chính xác của các nguồn dữ liệu phục vụ công tác báo cáo, phân tích và dự báo. Trong bối cảnh đó, vấn đề xây dựng công cụ thống kê, phân tích toàn thị trường UBCKNN có tính chất cấp bách và mang ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động của UBCKNN.

3.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- Hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về thống kê, phân tích nói chung và hoạt động thống kê phân tích đối với dữ liệu giao dịch chứng khoán.

- Đánh giá thực trạng của cơ sở dữ liệu tại UBCKNN, từ đó xác định các thông tin có thể sử dụng để phục vụ công tác thống kê, phân tích tại UBCKNN.

- Xây dựng các nội dung của ứng dụng thống kê, phân tích để áp dụng trên hệ thống công nghệ thông tin tại UBCKNN.

3.3 Nội dung của đề tài:

Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động thống kê hoạt động toàn thị trường chứng khoán

Chương II: Thực trạng công tác thống kê thị trường chứng khoán tại UBCKNN

Chương III: Xây dựng công cụ thống kê phân tích tại UBCKNN

4. ĐỀ TÀI UB.19.04: “Cơ chế quản lý đối với các công ty chứng khoán trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ 4”

Chủ nhiệm đề tài:   Thạc sỹ. Trần Thị Thu Hiền

Đơn vị chủ trì:     Vụ Quản lý kinh doanh

4.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với lĩnh vực tài chính nói chung, thị trường chứng khoán nói riêng. Công nghệ mới và việc gia tăng các hệ thống kinh doanh số sẽ thay đổi cách thức cung cấp dịch vụ, đồng thời làm xuất hiện thêm nhiều sản phẩm và dịch vụ mới, đặt ra yêu cầu mới cho công tác xây dựng cơ chế chính sách và công tác quản lý thị trường chứng khoán.

Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến thị trường chứng khoán chủ yếu trên diễn ra trên các khía cạnh: cách thức giao dịch, sản phẩm giao dịch, các tổ chức trung gian, cơ sở hạ tầng của thị trường và vấn đề an toàn, an ninh thị trường. Theo đó, trong điều kiện cách mạng công nghiệp 4.0, cách thức giao dịch trên thị trường chứng khoán sẽ linh hoạt hơn, cho phép nhà đầu tư ở bất cứ đâu cũng có thể tham gia vào thị trường qua việc sử dụng Internet và thiết bị di động. Về sản phẩm, sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ thúc đẩy sự kết nối giữa thị trường tiền tệ với thị trường vốn, cho phép các tổ chức kinh doanh chứng khoán kết hợp với các ngân hàng thương mại thiết kế thêm các sản phẩm tài chính mới. Đồng thời, các tổ chức tài chính trung gian có thể ứng dụng trí tuệ nhân tạo để quản lý danh mục và rủi ro, quản lý danh sách khách hàng, quản lý cơ sở dữ liệu, hoàn thiện mô hình quản trị...

Khi các công ty chứng khoán tham gia vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0, khách hàng có thể tiếp cận dịch vụ chất lượng với phí dịch vụ thấp hơn. Tuy nhiên, việc cung cấp dịch vụ qua mạng di động đặt ra các vấn đề pháp lý liên quan đến cung cấp, công khai thông tin cho khách hàng, vấn đề quản lý, giám sát bên thứ ba cung cấp dịch vụ, vấn đề minh bạch trong ký kết các hợp đồng điện tử. Hơn nữa, sự kết hợp giữa các dịch vụ tài chính và công nghệ hình thành nên các công ty công nghệ tài chính (Fintech), gây áp lực buộc các mô hình kinh doanh tài chính truyền thống phải thay đổi để bắt kịp xu thế cạnh tranh, trong đó có các công ty chứng khoán. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 cũng đặt ra thách thức cho cơ quan quản lý trong việc quản lý, giám sát cũng như vấn đề an toàn, an ninh thị trường.

Do đó, nghiên cứu về việc điều chỉnh các chính sách phát triển thị trường chứng khoán theo hướng tận dụng các cơ hội và hạn chế những tiêu cực mà cuộc cách mạng 4.0 mang lại là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cao, đặc biệt đối với cơ quan quản lý thị trường như UBCKNN.

4.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu, tìm hiểu những ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệp lần thứ 4 đến hoạt động của thị trường chứng khoán nói chung, tập trung vào ảnh hưởng đến hoạt động của công ty chứng khoán.

- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý, giám sát hoạt động công ty chứng khoán trong điều kiện thị trường thay đổi do cuộc cách mạng 4.0 tạo ra.

4.3 Nội dung đề tài:

Chương I: Các mạng công nghiệp lần thứ 4 và các tác động đến nền kinh tế

Chương II: Quản lý nhà nước đối với công ty chứng khoán hiện tại và xu hướng.

Chương III: Khuyến nghị đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với công ty chứng khoán theo xu hướng cách mạng công nghệ lần thứ tư.

5. ĐỀ TÀI UB.19.05 “Giám sát giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số”

Chủ nhiệm đề tài:   Ông Lê Nguyễn Trung Thanh

Đơn vị chủ trì:   Vụ Giám sát thị trường

5.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trên cơ sở Nghị định 42/2015/NĐ-CP, Thông tư 11/2016/TT-BTC và Thông tư 23/2017/TT-BTC quy định về thị trường chứng khoán phái sinh, sau nhiều năm chuẩn bị về cơ sở vật chất, điều kiện thị trường cũng như trình độ nhân lực, tháng 08/2018, thị trường chứng khoán phái sinh ra đời đánh dấu một mốc quan trọng trong sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây là bước tiếp theo để hoàn chỉnh cấu trúc thị trường tài chính, bao gồm hoạt động huy động vốn và hoạt động phân tán rủi ro, nâng cao hiệu quả của hệ thống bù trừ thanh toán, khả năng đáp ứng về vốn và trình độ nhân lực của các thành viên tham gia thị trường. Từ góc độ đầu tư tài chính chuyên nghiệp, một trong những chức năng chính của thị trường chứng khoán phái sinh là công cụ để phòng vệ rủi ro đối với danh mục đầu tư của các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, các yếu tố khác là đặc điểm gắn liền với các sản phẩm phái sinh sẽ khiến nó trở thành công cụ đầu tư mới, hấp dẫn, góp phần tăng thanh khoản cho thị trường chứng khoán nói chung.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm vừa đề cập, thị trường chứng khoán phái sinh cũng tiềm ẩn yếu tố rủi ro mang tính hệ thống. Với đặc thù sản phẩm hợp đồng tương lai chỉ số (HĐTLCS) gắn liền với biến động của tài sản cơ sở là các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán niêm yết trong khi đây lại là thị trường mới phát triển, có mức độ vốn hóa thấp, quy mô thị trường nhỏ, việc sử dụng đòn bẩy tài chính cao là yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến diễn biến của cả hai thị trường trong cùng một khoảng thời gian, sản phẩm có thể bị lợi dụng để trục lợi thông qua các giao dịch có tính chất liên thị trường, tác động xấu đến hoạt động ổn định, bền vững của thị trường chứng khoán nói chung. Tình thế này đòi hỏi phải có một hệ thống giám sát giao dịch chứng khoán phái sinh đầy đủ và chặt chẽ, đảm bảo tính minh bạch và ổn định hệ thống cho thị trường chứng khoán phái sinh.

Thực tế hoạt động của thị trường chứng khoán phái sinh từ tháng 08/2017 đến tháng 08/2018 cho thấy, hoạt động trên thị trường chứng khoán phái sinh của các nhà đầu tư đã có sự phát triển nằm ngoài mong đợi. Sau khoảng thời gian đầu tiên làm quen với giao dịch chứng khoán phái sinh, phần lớn các nhà đầu tư cá nhân tham gia giao dịch HĐTLCS trên thị trường CKPS đều hướng đến mục tiêu đầu cơ, tìm kiếm lợi nhuận ngay trong phiên giao dịch dựa trên biến động giá của CKPS. Do đó, mục tiêu phòng ngừa rủi ro của thị trường CKPS không còn được đáp ứng như mục tiêu thiết kế sản phẩm ban đầu. Bên cạnh đó, hoạt động giao dịch mang tính phòng ngừa rủi ro (hedging) và giao dịch hạn chế chệch lệch giá (arbitrage) của các nhà đầu tư còn lại, mà phần lớn là các tổ chức, cũng tạo ra các hiệu ứng có khả năng gây ảnh hưởng đến diễn biến liên thị trường giữa thị trường chứng khoán cơ sở và thị trường chứng khoán phái sinh.

Thực tế hoạt động của công tác giám sát thị trường từ tháng 08/2017 đến nay cho thấy bộ tiêu chí giám sát giao dịch HĐTLCS do Sở GDCK Hà Nội áp dụng trong thời gian đầu của thị trường CKPS chủ yếu được xây dựng dựa trên thuật toán và tham số đang áp dụng đối với thị trường cơ sở, tập trung vào các biến động về khối lượng và giá của chứng khoán phái sinh. Điều này đã thể hiện những nhược điểm do hoạt động giao dịch chứng khoán phái sinh có xu hướng theo giao dịch trong phiên và tập trung thực hiện vào thời điểm nối tiếp giữa các HĐTLCS gần đáo hạn và HĐTLCS vừa niêm yết. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu các tiêu chí giám sát và kỹ thuật phân tích đối với giao dịch chứng khoán phái sinh trong phiên.

5.2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Đánh giá thực trạng công tác giám sát giao dịch chứng khoán phái sinh tại Sở GDCK và UBCKNN.

- Nhận diện các giao dịch bất thường, có khả năng tác động đến giá và thanh khoản của thị trường chứng khoán phái sinh.

- Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các tiêu chí giám sát đối với giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh và tiêu chí giám sát liên thị trường giữa TTCK cơ sở và TTCK phái sinh.

+ Nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện phương pháp và kỹ thuật phân tích giao dịch chứng khoán phái sinh.

5.3 Nội dung đề tài:

Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát phái sinh

Chương II: Thực trạng công tác giám sát giao dịch chứng khoán phái sinh

Chương III: Xây dựng công cụ thống kê phân tích tại UBCKNN

II. CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Chuyên đề CĐ.19.01: “Ứng dụng của công nghệ blockchain (chuỗi khối) trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

Chủ nhiệm:  Ths. Nguyễn Anh Dũng

Đơn vị chủ trì:   Cục Công nghệ thông tin

1.1. Tính cấp thiết của chuyên đề

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất thế giới. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, CMCN lần thứ 4 đã và đang diễn tiến rất nhanh, tạo ra những khả năng hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc đến các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới. Trong số các công nghệ chủ chốt của CMCN lần thứ 4, công nghệ blockchain (hay còn gọi là công nghệ chuỗi khối) được đánh giá là một trong những công nghệ đột phá, được dự đoán sẽ là công nghệ dẫn dắt cuộc cách mạng này trong một vài thập kỷ tới.

Về khả năng ứng dụng công nghệ blockchain trên thị trường chứng khoán, thực tế cho thấy nhiều quốc gia đã có những nghiên cứu và ứng dụng bước đầu; chẳng hạn như: sàn giao dịch chứng khoán Nasdaq đã phát triển một nền tảng bỏ phiếu điện tử (về các quyết định hợp nhất, phát hành cổ phiếu, bầu hội đồng quản trị…) dành cho cổ đông của các công ty; sở GDCK Australia đang triển khai xây dựng hệ thống thanh toán giao dịch điện tử hoàn toàn mới dựa trên nền tảng blockchain; sở GDCK Luxembourg cũng đã xây dựng một hệ thống bảo mật dựa trên nền tảng blockchain, trong đó chữ ký điện tử chính thức được khởi tạo thông qua cơ chế chỉ định (appointed mechanism), cùng với định dạng tài liệu và đường dẫn của tài liệu được lưu trữ trên blockchain; sở GDCK Moscow cũng đã thực hiện thử nghiệm thành công ứng dụng e-voting qua blockchain dành cho trái chủ tại Trung tâm Thanh toán bù trừ quốc gia; sở GDCK Thái Lan đã giới thiệu nền tảng huy động vốn cộng đồng (crowfunding) dựa trên công nghệ blockchain dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp…

Có thể thấy, một số ứng dụng chính của blockchain trên thị trường chứng khoán bao gồm: (i) hỗ trợ phát hành chứng khoán (thị trường sơ cấp); (ii) hỗ trợ giao dịch chứng khoán (thị trường thứ cấp; (iii) các dịch vụ hỗ trợ tổ chức phát hành, nhà đầu tư; (iv) hỗ trợ cơ quan quản lý, giám sát thị trường theo thời gian thực. Các ứng dụng này về cơ bản không làm thay đổi bản chất, cơ chế, cách thức vận hành của thị trường chứng khoán mà góp phần tăng cường hiệu quả, tính minh bạch và hấp dẫn của thị trường. Tuy nhiên, việc ứng dụng blockchain trên thị trường chứng khoán không thực sự dễ dàng và khó có thể thực hiện được ngay vì vẫn còn một số hạn chế, thách thức về kỹ thuật (các giao thức chuẩn cho công nghệ blockchain vẫn đang tiếp tục được phát triển, hoàn thiện; các nền tảng blockchain ra đời sau cải tiến dần các nền tảng trước; cơ chế đồng thuận không thay đổi hoặc khi thay đổi sẽ dẫn đến ảnh hưởng lớn tới toàn bộ hệ thống); về thị trường (việc tự vận hành của thị trường sẽ làm thay đổi vai trò của cơ quan quản lý, tổ chức vận hành); về rào cản pháp lý (khung pháp lý liên quan đến tiền, tài sản số); về thói quen của người dùng; …

Vì vậy, việc nghiên cứu sâu về khả năng ứnng dụng của công nghệ blockchain trên thị trường chứng khoán nói chung và thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng là hết sức cần thiết để có thể sớm đưa ra các đề xuất, khuyến nghị nhằm phát huy, tận dụng những ưu điểm và khắc phục các hạn chế, tồn tại của công nghệ này.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề

- Làm rõ về công nghệ Blockchain (công nghệ nền tảng; cơ chế vận hành; các ưu, nhược điểm; ...) và khả năng năng ứng dụng của công nghệ;

- Làm rõ khả năng và thực tiễn ứng dụng blockchain trên thị trường chứng khoán, trong đó chú trọng vào từng bài toán nghiệp vụ áp dụng với từng đối tượng trên thị trường chứng khoán (trước và sau khi ứng dụng blockchain);

- Khuyến nghị một số khả năng ứng dụng cụ thể công nghệ blockchain phù hợp với điều kiện thực tiễn của thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó chú trọng việc ứng dụng trong tổ chức, vận hành và quản lý, giám sát thị trường.

1.3. Kết cấu của chuyên đề

Chương 1: Tổng quan về công nghệ Blockchain

Chương 2: Ứng dụng công nghệ Blockchain trên thị trường chứng khoán và đề xuất khả năng ứng dụng cho thị trường chứng khoán Việt Nam

2. Chuyên đề CĐ.19.02: “Nâng cao trách nhiệm xã hội của các tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

Chủ nhiệm:  TS. Nguyễn Thanh Huyền

Đơn vị chủ trì:   Tạp chí Chứng khoán   

2.1. Tính cấp thiết của chuyên đề

Nền kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay đã tạo ra cho nhân loại một lực lượng sản xuất khổng lồ, những luật lệ quan trọng của kinh tế toàn cầu được nhiều nước chấp nhận, tuân thủ và do vậy, chúng cũng hạn chế bớt được phần nào mặt trái do kinh tế thị trường gây ra. Tuy nhiên, không vì thế mà có thể coi kinh tế thị trường với các luật lệ của nó là chiếc đũa thần vạn năng có thể loại bỏ được tất cả những tiêu cực ẩn chứa trong nó. Do vậy, cùng với trách nhiệm về mặt luật pháp thì trách nhiệm đạo đức, hay rộng hơn là trách nhiệm xã hội, của các bên tham gia thị trường, mà đặc biệt doanh nghiệp đóng vai trò không nhỏ. Chính tinh thần, ý thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR- Corporate Social Responsibility) sẽ góp phần hạn chế và giảm bớt những tác động tiêu cực hay mặt trái của kinh tế thị trường, qua đó thúc đẩy sự phát triển và làm lành mạnh các quan hệ xã hội hướng đến phát triển bền vững. CSR được thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật và cam kết với các bên có lợi ích liên quan, có khả năng gắn kết hoạt động kinh doanh với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đạo đức, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền con người và đáp ứng các mối quan tâm của khách hàng, nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của các chủ sở hữu doanh nghiệp, bên có liên quan và toàn xã hội, xác định rõ, ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực có thể từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Tại Việt Nam, Chính phủ cũng đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững (PTBV) phù hợp với các mục tiêu PTBV của Liên hợp quốc; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ -TTg, phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh để đảm bảo phát triển kinh tế một cách bền vững. Đối với ngành tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 2183/QĐ-BTC ngày 20/10/2013 ban hành Kế hoạch hành động của ngành tài chính thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020. Theo đó, PTBV là yêu cầu xuyên suốt đến năm 2020, cần đảm bảo cân bằng, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội với phát triển xã hội, đã ban hành nhiều quy định với mục đích điều chỉnh và cải thiện thực hiện hệ thống báo cáo. Trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (TTCK), để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của TTCK, hệ thống báo cáo doanh nghiệp niêm yết (DNNY) được quy định tại Việt Nam tuân thủ Luật Chứng khoán 2006, 2010, Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và các văn bản hướng dẫn khác. Bên cạnh đó, việc tích hợp các chính sách và thông lệ về ESG4 vào chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp niêm yết (DNNY) trở thành xu thế tất yếu, giúp DNNY nhận diện và xây dựng kế hoạch ứng phó đối với các rủi ro. 

Nhìn chung, cho đến nay, các quy định báo cáo hiện hành không yêu cầu các DNNY của Việt Nam báo cáo về thông tin xã hội và môi trường; do đó, báo cáo CSR vẫn chủ yếu mang tính chất tự nguyện. Chính vì vậy, cần thiết phải có những định hướng và giải pháp hoàn chỉnh từ thể chế đến cơ chế để các DNNY nhận thức sâu sắc hơn tầm quan trọng CSR, vinh danh những DNNY thực hiện tốt cũng như cần có những chế tài phù hợp với các DNNY chưa quan tâm đến thực hiện nội dung CSR.

2.2. Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về CSR nói chung và CSR trong các doanh nghiệp niêm yết nói riêng.

- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện CSR nhằm làm nổi bật những nguyên nhân, bất cập, những vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện/ tuân thủ các quy định liên quan đến CSR nói chung cũng như liên quan đến DNNY nói riêng trong giai đoạn từ 2012 đến nay.

- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị có tính khả thi để DNNY tuân thủ tốt các quy định CSR tại Việt Nam.

2.3. Kết cấu của chuyên đề

Chương 1: Tổng quan và kinh nghiệm quốc tế về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

3. Chuyên đề CĐ.19.03: “Xây dựng và áp dụng Bộ chỉ số về chất lượng kiểm toán trong lĩnh vực chứng khoán”

Chủ nhiệm:  Cử nhân Trần Anh Tâm

Đơn vị chủ trì:   Vụ Giám sát Công ty đại chúng  

3.1. Tính cấp thiết của chuyên đề

Thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) của một doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để người sử dụng đưa ra các quyết định kinh tế. Đặc biệt, đối với thị trường chứng khoán, thông tin tài chính của tổ chức phát hành phải trung thực, chính xác và được cung cấp đầy đủ, kịp thời. Đây là yếu tố sống còn và mang tính quyết định để thu hút được lòng tin của nhà đầu tư. Vì thế, hoạt động kiểm toán độc lập với mục đích kiểm tra và xác nhận về tính trung thực và hợp lý của BCTC có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao sự tin cậy của người sử dụng thông tin tài chính.

Với vai trò này, việc đánh giá, để từ đó nâng cao chất lượng kiểm toán luôn là một mục tiêu quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều bên liên quan trong nền kinh tế và các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, việc đánh giá chất lượng kiểm toán luôn là mục tiêu khó, phức tạp do việc định nghĩa, đo lường hoặc xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng kiểm toán vẫn là một thách thức và chưa có sự thống nhất chung hoặc được chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu. Điều này trực tiếp ảnh hưởng tới nhà đầu tư, đơn vị được kiểm toán và các bên khác, là những người sử dụng kết quả kiểm toán do họ bị hạn chế thông tin hỗ trợ việc đánh giá và thúc đẩy chất lượng kiểm toán.

Gần đây, một giải pháp nổi bật được các cơ quan có thẩm quyền và các tổ chức nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán có uy tín trên thế giới lựa chọn để bổ sung, hỗ trợ cho các cách thức đánh giá chất lượng kiểm toán hiện nay là xây dựng bộ chỉ số chất lượng kiểm toán (audit quality indicators). Đây là giải pháp mới, được sử dụng kết hợp và bổ sung cho các cách thức hiện tại đang áp dụng để nâng cao chất lượng kiểm toán. Tính chất mới của giải pháp này thể hiện chủ yếu ở chỗ đối tượng chính thực hiện đánh giá chất lượng kiểm toán là đơn vị được kiểm toán và nhà đầu tư, tức là dựa trên yêu cầu của thị trường, của khách hàng mà không phải do các biện pháp mang tính chất hành chính của cơ quan quản lý đưa ra. Bộ chỉ số sẽ cung cấp cơ sở thống nhất cho việc so sánh chất lượng giữa các cuộc kiểm toán và giữa các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT). Bộ chỉ số bao gồm các chỉ số phản ánh cả yếu tố đầu vào, đầu ra và yếu tố trong quá trình kiểm toán quyết định tới chất lượng kiểm toán.

Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC nhưng chưa có nghiên cứu nào xác định các chỉ số để lượng hóa các nhân tố này cũng như chưa có giải pháp phát huy vai trò của đơn vị được kiểm toán và nhà đầu tư trong việc đánh giá, nâng cao chất lượng kiểm toán. Khái niệm và việc áp dụng bộ chỉ số chất lượng kiểm toán là vấn đề còn khá mới tại Việt Nam và chưa được các cơ quan, tổ chức của Việt Nam triển khai xây dựng. Với thực tế là chất lượng kiểm toán BCTC của Việt Nam chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhà đầu tư và các các bên liên quan trong thời gian qua, việc nghiên cứu, xây dựng và vận dụng những cách thức hiệu quả để đánh giá, từ đó nâng cao chất lượng kiểm toán, đặc biệt là chất lượng kiểm toán trên thị trường chứng khoán như bộ chỉ số chất lượng kiểm toán là thực sự cần thiết.

3.2. Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề

- Hệ thống hóa các nghiên cứu về bộ chỉ số chất lượng kiểm toán cũng như kinh nghiệm quốc tế về xây dựng bộ chỉ số.

- Phân tích thực trạng việc đánh giá chất lượng kiểm toán ở Việt Nam đến nay (khi chưa có bộ chỉ số chất lượng kiểm toán) và tình hình triển khai nghiên cứu ban đầu về bộ chỉ số chất lượng kiểm toán tại Việt Nam.

- Đề xuất phương hướng để xây dựng và vận dụng bộ chỉ số phù hợp ở Việt Nam, trong đó tập trung vào đối tượng các doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán.

3.3. Kết cấu của chuyên đề

Chương 1: Giới thiệu chuyên đề

Chương 2: Những vấn đề chung về đánh giá chất lượng kiểm toán và Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán

Chương 3: Thực trạng đánh giá chất lượng kiểm toán độc lập tại Việt Nam

Chương 4: Phương hướng xây dựng và vận dụng Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán tại các doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam.

*1 Nguồn: www.coindesk.com

*2 Thống kê của Huobi.pro, sàn giao dịch tiền ảo lớn thứ 3 trên thế giới

*3 Thống kê của Tổng cục Hải quan

*4 ESG (Environmental, Social and corporate Governance) - môi trường, xã hội và quản trị công ty.

Các tin khác