Skip to content
ssc.gov.vn
Hoàn thiện khung khổ pháp lý về chứng khoán phái sinh
Dự thảo Thông tư hướng dẫn về chứng khoán phái sinh phù hợp với thực tiễn thị trường (ý kiến của Trung tâm lưu ký Chứng khoán Việt Nam – VSD)
270
15/04/2021

Hiện nay, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã dự thảo Thông tư hướng dẫn một số điều của Nghị định số 158/2020/NĐ-CP về chứng khoán phái sinh (CKPS) và thị trường chứng khoán (TTCK) phái sinh và đang lấy ý kiến các bên liên quan và thành viên thị trường để gấp rút hoàn thiện. Nhìn chung, dự thảo Thông tư đã được UBCKNN soạn thảo tương đối hoàn chỉnh và phù hợp với thực tiễn hiện nay. Về cơ bản, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) đồng ý với dự thảo Thông tư, ngoài ra VSD có một số ý kiến đóng góp như sau:

Thứ nhất, tại Khoản 2, Điều 1 về đối tượng áp dụng của Thông tư, VSD đề nghị rà soát, bổ sung thêm đối tượng điều chỉnh là Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HOSE) cho phù hợp với Khoản 1, Điều 3 vì khoản này đang đề cập đến cả HOSE, trong khi dự thảo Thông tư lại không có quy định về đối tượng áp dụng là HOSE.

Thứ hai, về hợp đồng tương lai (HĐTL) trái phiếu Chính phủ (TPCP) khi đáo hạn được thực hiện dưới hình thức thanh toán bằng tiền hoặc chuyển giao tài sản theo quy chế của Tổng Công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (TCTLK&BTCKVN) quy định tại Khoản 2, Điều 4 của dự thảo Thông tư, theo VSD nên bổ sung thêm cụm từ “cơ sở” sau cụm từ “chuyển giao tài sản” cho thống nhất với các khái niệm đang sử dụng tại Khoản 1 và điểm a, Khoản 3, Điều 4.

Thứ ba, nên đưa cụm từ “sau đây gọi tắt là tài khoản ký quỹ” tại Khoản 2, Điều 6 lên Khoản 1, Điều 5 cho phù hợp với logic, đồng thời bỏ cụm từ trên ở khoản 2a, Điều 10 vì ở trên đã viết tắt tránh bị trùng lặp.

Thứ tư, tại điểm c, Khoản 2, Điều 5 quy định “…Việc mở tài khoản giao dịch để thực hiện giao dịch đối ứng theo quy định tại điểm c Điều này thực hiện theo hướng dẫn của TCTLK&BTCKVN” theo VSD nên sửa lại như sau: “Việc thực hiện giao dịch đối ứng theo quy định tại điểm c, Khoản 2 Điều này thực hiện theo hướng dẫn của TCTLK&BTCKVN” vì VSD không chỉ hướng dẫn việc mở tài khoản giao dịch (nếu cần thiết) như thế nào mà còn hướng dẫn về yêu cầu đối với giao dịch đối ứng (về số lượng vị thế, mã hợp đồng, giá…) để đảm bảo đạt được mục tiêu là giảm giới hạn vị thế.

Thứ năm, tại các Khoản 3 và 4, Điều 6 về tài khoản giao dịch của nhà đầu tư, VSD đề xuất nên bổ sung một số cụm từ như: công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, giao dịch CKPS. Sở dĩ VSD có đề xuất như vậy để có thể xác định đúng loại hình công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán theo Luật Chứng khoán 2019, đồng thời cũng làm rõ đối tượng, phạm vi điều chỉnh là các giao dịch CKPS, tránh nhầm lẫn với TTCK cơ sở. Cũng trong Điều 6 này, VSD đề xuất bổ sung thêm Khoản 6 với nội dung: “Việc đăng ký thông tin tài khoản giao dịch, tài khoản giao dịch tổng trên hệ thống bù trừ thanh toán CKPS thực hiện theo quy chế của TCTLK&BTCKVN” để VSD có cơ sở hướng dẫn tại Quy chế của VSD.

Thứ sáu, về nguyên tắc thanh toán giao dịch CKPS cho nhà đầu tư quy định tại điểm a, Khoản 1, Điều 9 của dự thảo Thông tư quy định “…các mức giá nêu trên được công bố trên trang thông tin điện tử của SGDCK Hà Nội”. Hiện nay, hàng ngày VSD đang thực hiện công bố giá thanh toán cuối ngày và giá thanh toán cuối cùng trên website của VSD, vì vậy để phù hợp với thực tế, VSD đề xuất sửa đổi như sau: “Giá thanh toán cuối ngày, giá thanh toán cuối cùng được công bố trên trang thông tin điện tử của TCTLK&BTCKVN”.

Thứ bảy, bổ sung thêm cụm từ “thực hiện hợp đồng” vào Khoản 4, Điều 13 như sau: “Thành viên bù trừ có thể nộp ký quỹ bằng tiền hoặc chứng khoán nhưng phải đảm bảo tỷ lệ tiền ký quỹ không thấp hơn 80% mức ký quỹ yêu cầu, trừ trường hợp nhà đầu tư nắm giữ vị thế bán hợp đồng tương lai TPCP thanh toán thực hiện hợp đồng dưới hình thức chuyển giao tài sản cơ sở thực hiện ký quỹ bằng TPCP có thể chuyển giao” do chỉ trong trường hợp thanh toán thực hiện hợp đồng dưới hình thức chuyển giao tài sản cơ sở mới có thể thực hiện  ký quỹ bằng TPCP có thể chuyển giao.

Thứ tám, tại Điều 15 về xử lý trường hợp mất khả năng thanh toán, theo VSD nên bổ sung thêm chữ “bị” vào trước các cụm từ “mất khả năng thanh toán” tại điểm a, Khoản 2 Điều này để thống nhất với các nội dung khác trong điều 15. Mặt khác, cũng tại Khoản 2 này, bỏ cụm từ “theo quy định tại điểm a, Khoản 1, Điều này” do cả Khoản 1, Điều 15 quy định về các trường hợp mất khả năng thanh toán, nếu chỉ tham chiếu điểm a, Khoản 1 thì quy định chưa đầy đủ. Đồng thời, cũng nên bổ sung thêm cụm từ “Sử dụng Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ của TCTLK&BTCKVN theo quy định” vào điểm d, Khoản 2, Điều 15 để thống nhất với quy định tại Khoản 6b điều này. Cũng tại Khoản 6, Điều 15 bổ sung thêm điểm đ như sau: “Khoản tiền ký quỹ của thành viên bù trừ đã sử dụng để đảm bảo thanh toán cho nhà đầu tư mất khả năng thanh toán”.

Thứ chín, tại điểm b, c, Khoản 1, Điều 19 đảo cụm từ “đồng thời là thành viên bù trừ” lên trên để quy định được ngắn gọn, rõ ý và bổ sung cụm từ “đình chỉ hoạt động bù trừ thanh toán”, theo đó, hai điểm này nên được sửa lại như sau: “b) Thành viên giao dịch đồng thời là thành viên bù trừ bị TCTLK&BTCKVN đình chỉ hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh; c) Thành viên bù trừ chung đang cung cấp dịch vụ bù trừ thanh toán cho thành viên giao dịch đó bị TCTLK&BTCKVN đình chỉ hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh hoặc hủy bỏ tư cách thành viên bù trừ (trong trường hợp thành viên giao dịch là thành viên giao dịch không bù trừ)”. Đồng thời, bổ sung thêm quy định về thời hạn đình chỉ tại Khoản 3 điều này: “Đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, thành viên giao dịch bị đình chỉ cho tới khi được TCTLK&BTCKVN khôi phục lại hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch CKPS”.

Thứ mười, nên xem xét lại cụm từ “đình chỉ tư cách thành viên” tại điểm b, Khoản 1, Điều 23 bởi không có khái niệm đình chỉ tư cách thành viên mà chỉ có hủy bỏ tư cách thành viên. Do vậy, theo VSD nên sửa lại như sau: “Thành viên tạo lập thị trường bị SGDCK Việt Nam đình chỉ hoạt động giao dịch trên TTCK phái sinh hoặc bị TCTLK&BTCKVN đình chỉ hoạt động bù trừ, thanh toán trên TTCK phái sinh”.

Mười một, tại Điều 27, bổ sung những nội dung sau vào điểm c và d, cụ thể: “c) Không hoàn trả đủ tiền hỗ trợ thanh toán từ Quỹ bù trừ, Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ và nguồn vốn của TCTLK&BTCKVN trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày sử dụng; d) Không chuyển đủ khoản tiền bồi thường theo quy định tại điểm c Khoản 4 Điều 11 trong vòng 02 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn nộp theo thông báo của TCTLK&BTCKVN”.

Cuối cùng, về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp (Điều 33), theo VSD không cần nêu đầy đủ tên các Thông tư vì ở Khoản 1 điều này đã quy định cách viết tắt. Đồng thời, thay đổi cụm từ “sau thời điểm” bằng “kể từ ngày” tại Khoản 2, Điều 33 như sau: “Hoạt động ký quỹ từ chối thế vị, sửa lỗi sau giao dịch quy định tại Thông tư này được thực hiện kể từ ngày chính thức triển khai hoạt động ký quỹ theo hệ thống hạ tầng kỹ thuật mới”.

Các bài viết khác: