Skip to content
ssc.gov.vn
Phỏng vấn - Trao đổi
Tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước gắn với phát triển thị trường vốn và niêm yết trên thị trường chứng khoán
270
15/04/2021

Tái cơ cấu doanh nghiệp tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một trong những vấn đề quan trọng giúp thúc đẩy các DNNN sớm hoàn thành quy trình quản trị công ty (QTCT) minh bạch, rõ ràng, đặc biệt là tại các công ty đại chúng (CTĐC) có vốn nhà nước. Theo ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính Doanh nghiệp, Bộ Tài chính, để thúc đẩy tái cấu trúc và phát triển DNNN trong thời gian tới, một trong những vấn đề trọng tâm là tập trung đổi mới tư duy QTCT mà đích đến là tất cả các DNNN phải chuyển sang hoạt động theo hình thái sở hữu hỗn hợp và chọn mô hình công ty cổ phần gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK).

Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về tình hình tái cấu trúc các DNNN trong thời gian gần đây?

Vừa qua, các cơ chế chính sách và hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa (CPH) DNNN tiếp tục được ban hành, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, đảm bảo chặt chẽ hơn, công khai minh bạch, tối đa hóa lợi ích của Nhà nước, tháo gỡ khó khăn vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ CPH, thoái vốn và hạn chế thất thoát vốn, tài sản nhà nước trong quá trình CPH, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Các DNNN đã từng bước được cơ cấu lại hiệu quả hơn, giữ vững vai trò là lực lượng vật chất quan trọng của nền kinh tế, góp phần điều tiết kinh tế, ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể: (i) nhiều DNNN đã đi đầu trong việc thực hiện chủ trương cắt giảm đầu tư, chi tiêu, không tăng giá bán sản phẩm, dịch vụ, đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa, góp phần ổn định xã hội, ngăn chặn suy giảm kinh tế; (ii) đóng góp lớn để xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (iii) tăng cường một bước công tác quản lý, QTCT, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi không để phát sinh tồn đọng tài chính, thường xuyên đối chiếu thu hồi các khoản công nợ theo quy định; (iv) thực hiện cơ cấu lại nguồn nhân lực theo hướng tinh giản, tăng quyền tự chủ, thúc đẩy khả năng sáng tạo, lựa chọn đúng người vào đúng vị trí để người lao động phát huy được hết khả năng của mình, đồng thời thu hút được các ứng viên xuất sắc. Một số đơn vị đã xây dựng và áp dụng bảng mô tả công việc để làm rõ trách nhiệm, nhiệm vụ và năng lực cần có cho từng vị trí công việc; (v) Nhiều DNNN đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và đưa công nghệ mới vào phát triển sản xuất kinh doanh; đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí, viễn thông, giao thông, xây dựng, hóa chất, cao su...

Bên cạnh những thành quả đáng ghi nhận, theo ông, việc tái cấu trúc doanh nghiệp tại các DNNN còn có những vấn đề hạn chế nào cần phải tháo gỡ?

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình cơ cấu lại DNNN vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, đó là cơ cấu lại bộ máy lãnh đạo, nâng cao hiệu quả, trách nhiệm để người cán bộ quản lý tại một số doanh nghiệp chưa làm tốt, triệt để. Một số cán bộ quản lý DNNN còn thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý trong quá trình tổ chức triển khai hoạt động nên vẫn còn DNNN sản xuất, kinh doanh hiệu quả thấp, thua lỗ, không tương xứng với nguồn lực nắm giữ; tại một số DNNN vẫn có những dự án chưa hiệu quả, làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Đặc biệt, công tác đổi mới QTCT trong điều hành sản xuất kinh doanh còn chậm. Nhiều DNNN còn chưa theo kịp với yêu cầu biến động của thị trường, chưa thực sự theo cơ chế thị trường. Công tác quản lý đầu tư, quản lý tài chính, quản lý rủi ro, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí, thất thoát còn lỏng lẻo; chi phí sản xuất kinh doanh còn lớn. Công nghệ và công cụ quản trị kinh doanh chậm đổi mới. Nhiều doanh nghiệp chưa áp dụng công nghệ điều hành hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, dẫn đến chậm hoặc không phát hiện được các vấn đề phát sinh trong kinh doanh. Chế độ đãi ngộ và xử lý trách nhiệm cơ bản vẫn theo nguyên tắc như đối với viên chức nhà nước, không tạo được động lực gắn với trách nhiệm theo cơ chế thị trường.

Việc tổ chức thực hiện pháp luật về công bố thông tin (CBTT) còn mang tính hình thức, dẫn tới khó giám sát được doanh nghiệp, không đủ thông tin khách quan về DNNN, tạo dư luận xã hội thiếu tích cực về tính minh bạch của DNNN, trước hết là DNNN thuộc các ngành, lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc do Nhà nước định giá, điều tiết giá hoặc các ngành cung cấp sản phẩm dịch vụ công thiết yếu…

Những tồn tại ở trên do một số nguyên nhân sau đây: Trước hết là do vướng mắc về thể chế chậm được nghiên cứu, hoàn thiện, bổ sung để tháo gỡ và thúc đẩy quá trình tự chủ gắn với tự chịu trách nhiệm theo đúng nguyên tắc thị trường, công khai, minh bạch, tuân thủ chặt chẽ pháp luật. Tiếp đến là do khâu tổ chức thực hiện của một số Bộ, ngành, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty nhà nước (TCTNN) còn chưa thực sự nghiêm túc triển khai kế hoạch tái cấu trúc (cụ thể CPH, thoái vốn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ) dẫn đến DNNN chưa xây dựng được hướng đi mới, định hướng phát triển mới nên còn lúng túng và không muốn thoái vốn khỏi những ngành, lĩnh vực phát triển mạnh, có tỷ suất sinh lời cao. Cuối cùng là vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp, đơn vị còn chưa cao, chưa quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp, công khai minh bạch, đúng quy định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong CPH và thoái vốn nhà nước.

Để thúc đẩy tái cấu trúc và phát triển DNNN trong thời gian tới, một trong những vấn đề trọng tâm nhất mà Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ cho Chính phủ, Bộ Tài chính, đó là tập trung đổi mới tư duy QTCT của DNNN. Đây là vấn đề cốt lõi để đảm bảo doanh nghiệp phát triển một cách minh bạch và ổn định thị trường mà đích đến đó là tất cả các DNNN phải chuyển sang hoạt động theo hình thái sở hữu hỗn hợp và chọn mô hình công ty cổ phần gắn với niêm yết trên TTCK.

Vấn đề trọng tâm thứ hai đó là đẩy mạnh áp dụng chuẩn mực quốc tế trong QTCT; chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ (tăng cường áp dụng công nghệ trong quản lý, chỉ đạo, điều hành doanh nghiệp...), áp dụng các quy định mới… nhằm tối ưu hóa hoạt động, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các tập đoàn, TCTNN, DNNN. Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng chuẩn mực kế toán quốc tế mà một trong những đối tượng ưu tiên áp dụng là các Tập đoàn và TCTNN. Thực tế hiện nay đã có một số Tập đoàn, TCT bắt đầu tiếp cận với việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế.

Và cuối cùng, đó là gắn kết phát triển thị trường vốn. Theo đó, phát triển thị trường vốn góp phần thúc đẩy các DNNN sớm hoàn thành quy trình QTCT minh bạch, rõ ràng, đặc biệt là các CTĐC có vốn nhà nước; qua đó thúc đẩy tăng khối lượng giao dịch trên thị trường, tăng tính thanh khoản cho cổ đông nhà nước; Đồng thời, thúc đẩy các DNNN tham gia huy động vốn theo hướng giảm tỷ trọng vay tín dụng thương mại, giảm áp lực tăng giá phí trong nước; đa dạng các hình thức huy động bổ sung vốn.

Xin ông chia sẻ thêm thông tin về các giải pháp triển khai lộ trình tái cấu trúc DNNN giai đoạn 2021 -2025 gắn với sự phát triển của thị trường vốn?

Thị trường vốn trong giai đoạn 2021 - 2025 sẽ được tăng cường quản lý, giám sát để phát triển bền vững, đồng bộ giữa các cấu phần và trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế và khu vực DNNN (các Tập đoàn kinh tế, TCTNN). Thị trường vốn với nòng cốt là TTCK hoạt động công khai, minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường; nâng cao tính cạnh tranh, vận hành thị trường theo xu hướng và thông lệ quốc tế. Từng bước chuyển từ cơ chế quản lý thị trường cổ phiếu dựa trên chất lượng sang CBTT đầy đủ; tiến tới thành lập sàn giao dịch chuyên biệt cho các DNNN; đa dạng phương thức định giá cổ phần chào bán ra công chúng.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ được chú trọng phát triển để trở thành thị trường quan trọng cùng với thị trường cổ phiếu là kênh huy động chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển của DNNN. Việc hình thành thị trường dịch vụ đánh giá hệ số mức tín nhiệm sẽ thúc đẩy DNNN đổi mới quản lý, thúc đẩy QTCT đầy đủ theo nguyên tắc thông lệ quốc tế và coi trọng việc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trước người dân và xã hội.

Thị trường vốn giữ vai trò là nơi cung cấp vốn đáp ứng yêu cầu về thời gian, khối lượng và giá phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư của DNNN. Mặt khác, đây cũng là tấm gương phản chiếu kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp phải đổi mới QTCT, minh bạch thông tin, tăng cường sức cạnh tranh, chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, hoạt động theo nguyên tắc thị trường.

Các giải pháp gắn sự việc triển khai lộ trình tái cấu trúc DNNN giai đoạn 2021 – 2025 với sự phát triển của thị trường vốn như sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm của người đứng đầu, trong đó, gắn trách nhiệm của người đứng đầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch hội đồng thành viên tập đoàn kinh tế, TCTNN, DNNN với việc phê duyệt phương án cơ cấu lại doanh nghiệp, tổ chức và giám sát việc triển khai thực hiện có hiệu quả phương án được duyệt.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, khuôn khổ pháp lý về tổ chức quản lý và hoạt động của DNNN, về sắp xếp, CPH, thoái vốn theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN và Nghị quyết số 60/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội; xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia thống nhất, đồng bộ về doanh nghiệp và vốn, tài sản của Nhà nước.

Hoàn thiện chính sách về CPH doanh nghiệp, trong đó: (i) Thực hiện nghiêm quy định về đăng ký lưu ký, đăng ký giao dịch (ĐKGD)/ niêm yết trên TTCK. Thí điểm một số DNNN sau CPH ĐKGD/ niêm yết trên TTCK khu vực và thế giới; (ii) Các doanh nghiệp đã CPH nhưng chưa đạt được tỷ lệ vốn nhà nước theo tiêu chí phân loại DNNN thì phải tổ chức lập kế hoạch và triển khai công tác thoái vốn theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo tỷ lệ nhà nước nắm giữ.

Thứ ba, thực hiện công khai thông tin đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước (trừ các doanh nghiệp có liên quan đến quốc phòng, an ninh), đảm bảo cho mọi đối tượng quan tâm có thể dễ theo dõi, giám sát, khai thác thông tin. Công khai thủ tục, điều kiện, quá trình lựa chọn và đối tượng thụ hưởng các nguồn lực quốc gia, đặc biệt là đất, tài nguyên thiên nhiên.

 Tập đoàn, TCTNN, DNNN có trách nhiệm giải trình về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; bảo toàn, phát triển vốn nhà nước trước cơ quan đại diện chủ sở hữu khi có yêu cầu.

Thứ tư, gắn trách nhiệm của người đứng đầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch hội đồng thành viên tập đoàn kinh tế, TCTNN, DNNN với việc phê duyệt phương án cơ cấu lại doanh nghiệp, tổ chức và giám sát việc triển khai thực hiện có hiệu quả phương án được duyệt. Ràng buộc trách nhiệm người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước với công tác công khai thông tin của doanh nghiệp.

Xin trân trọng cảm ơn ông!