Skip to content
ssc.gov.vn
Diễn đàn chứng khoán
Phương án ứng xử với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam
265
15/11/2020

Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020, tổ chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

(1) Có NĐTNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh;

(2) Có tổ chức kinh tế thuộc trường hợp (1) nắm giữ trên 50% vốn điều lệ;

(3) Có NĐTNN và tổ chức kinh tế thuộc trường hợp (1) nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

Với đặc thù của hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán (TTCK), không thể có cơ chế kiểm soát hoạt động đầu tư của NĐTNN theo quốc tịch; không thể áp dụng điều kiện, thủ tục đầu tư của pháp luật đầu tư đối với hoạt động chứng khoán khi doanh nghiệp không kiểm soát được sự biến động liên tục danh sách, số lượng cổ phần của cổ đông. Do vậy, để phù hợp với hoạt động chứng khoán, TTCK, Điều 4 Luật Đầu tư năm 2020 có quy định “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Đầu tư và luật khác đã được ban hành trước ngày Luật Đầu tư có hiệu lực thi hành về trình tự, thủ tục đầu tư kinh doanh, bảo đảm đầu tư thì thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư, trừ các trường hợp sau đây: Thẩm quyền, trình tự, thủ tục, điều kiện đầu tư kinh doanh, hoạt động về chứng khoán và TTCK trên TTCK Việt Nam thực hiện theo quy định của Luật Chứng khoán”.

Đối với TTCK, việc xác định tư cách tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) để ứng xử như NĐTNN hay nhà đầu tư trong nước có ý nghĩa rất quan trọng. Tùy thuộc vào từng cách xác định tư cách tổ chức kinh tế này sẽ có ảnh hưởng khác nhau tới hoạt động của công ty đại chúng (CTĐC), tới hoạt động đầu tư của NĐTNN trên TTCK và kéo theo ảnh hưởng tới chủ trương thu hút và quản lý dòng vốn ĐTNN thông qua TTCK.

Xác định tư cách tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài là nội dung cần được quy định chi tiết tại Nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán 2019. Liên quan đến vấn đề này, hiện có không ít các phương án được đề xuất. Tuy nhiên, qua phân tích, đánh giá, nhóm nghiên cứu đưa ra các phương án và đề xuất lựa chọn phương án có tính khả thi nhất. Cụ thể như sau:

Phương án 1: Chỉ tính tỷ lệ sở hữu nước ngoài (SHNN) tại CTĐC đến F1 (có NĐTNN sở hữu trên 50% vốn điều lệ), do đó các công ty F1 sẽ thực hiện thủ tục đầu tư trên TTCK như NĐTNN (đăng ký mã số giao dịch, bị áp dụng hạn chế SHNN (nếu có) khi góp vốn, đầu tư vào CTĐC khác).

Ưu điểm: Việc áp dụng trên không gây xáo trộn nhiều trên TTCK, do các CTĐC trên 50% vốn nước ngoài hiện nay không nhiều.

Hạn chế: NĐTNN thay vì đầu tư trực tiếp vào các ngành nghề hạn chế SHNN sẽ thực hiện đầu tư thông qua một công ty khác đã thành lập và hoạt động tại Việt Nam. Với phương án này, nguy cơ doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn, trong đó không ngoại trừ ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng... Bên cạnh đó, phương án này cũng chưa tiệm cận với quy định của pháp luật đầu tư khi tổ chức kinh tế (F2) cũng bị ứng xử như các NĐTNN.

Phương án 2: Chỉ tính SHNN tại CTĐC đến cả F2 (có F0> 50% vốn điều lệ; hoặc F1> 50% vốn điều lệ; hoặc F0+F1> 50% vốn điều lệ). Như vậy, các công ty F1, F2 sẽ thực hiện thủ tục đầu tư trên TTCK như NĐTNN.

Theo Luật Đầu tư năm 2020 (Điều 23) và căn cứ quy ước nêu trên, xác định tư cách tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN được coi là NĐTNN khi: F0 > 50% Vốn điều lệ; hoặc F1 > 50% Vốn điều lệ; hoặc F2 > 50% Vốn điều lệ. Như vậy, phương án 2 đưa ra cơ bản phù hợp với quy định mới của Luật Đầu tư, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021.

Do đặc thù của TTCK, tỷ lệ SHNN của NĐTNN thay đổi thường xuyên và thông tin cổ đông được Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) quản lý. Để quy định này được thực hiện, cần bổ sung quy định về phương án kỹ thuật để xác định các tổ chức kinh tế áp dụng điều kiện, trình tự thủ tục đầu tư trên TTCK như NĐTNN theo hướng:

- Quy định thời gian nắm giữ cổ phiếu của NĐTNN: Tổ chức có NĐTNN sở hữu từ 50% vốn điều lệ trong thời gian liên tục từ 03 đến 06 tháng trở lên. Trong trường hợp này, VSD có trách nhiệm theo dõi sự biến động danh sách các CTĐC và thông báo cho CTĐC để thực hiện thông báo, công bố thông tin (CBTT) về SHNN và được ứng xử như nhà đầu tư trong nước. Hoặc:

- Quy định thời điểm xác định tư cách của tổ chức kinh tế có NĐTNN nắm giữa trên 50% vốn điều lệ: Thời điểm xác định là vào ngày 31/12 hàng năm, VSD xác định và thông báo cho CTĐC tỷ lệ SHNN.

- Bổ sung quy định về cơ chế quản lý, phối hợp giữa cơ quan đăng ký doanh nghiệp (Sở Kế hoạch và Đầu tư) và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) trong thông báo các doanh nghiệp có sở hữu trên 51% vốn nước ngoài, đảm bảo quản lý quá trình đầu tư trên TTCK và các hoạt động đầu tư khác.

Ưu điểm: Về lý thuyết, đảm bảo thống nhất quy định giữa pháp luật đầu tư và pháp luật chứng khoán trong việc kiểm soát hoạt động ĐTNN thông qua nguồn vốn; bình đẳng về đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp đại chúng và chưa đại chúng.

Nhược điểm và tính khả thi: Với phương án này, không khả thi nếu áp dụng cho các doanh nghiệp là CTĐC có cổ phiếu giao dịch trên hệ thống giao dịch chứng khoán bởi các lý do sau:

Trường hợp góp vốn, mua cổ phần vào các CTĐC của NĐTNN thông qua các hình thức: trực tiếp mua cổ phiếu còn ROOM nước ngoài hoặc không bị hạn chế về tỷ lệ SHNN thông qua hệ thống giao dịch chứng khoán và thực hiện chuyển quyền sở hữu chứng khoán tại VSD (tổ chức lưu ký chứng khoán và thanh toán bù trừ chứng khoán). CTĐC không có khả năng kiểm soát được sự biến động của cổ đông trong mọi thời điểm. Với phương án này, doanh nghiệp luôn bị động (ngay cả khi bổ sung thời điểm chốt danh sách cổ đông như dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán). Điều này sẽ ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngoài ra, việc mở rộng các đối tượng phải áp dụng điều kiện, thủ tục như NĐTNN trên TTCK (đến F2) sẽ khiến dư địa về tỷ lệ SHNN trên TTCK ít hơn, ảnh hưởng đến tính thanh khoản của thị trường.

Phương án 3: Tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN áp dụng điều kiện như NĐTNN khi đáp ứng cả 02 điều kiện sau: (1) Có NĐTNN và/hoặc tổ chức kinh tế sở hữu trên 50% vốn điều lệ và (2) Tổng tỷ lệ SHNN của các cổ đông lớn, hoặc tổ chức kinh tế sở hữu trên 50% vốn điều lệ và người có liên quan của đối tượng này đạt từ 25% vốn điều lệ trở lên.

Trường hợp này có thể ko cần chốt thời điểm tại VSD (như phương án 2 nêu trên). Theo đó, VSD có nghĩa vụ CBTT về các doanh nghiệp đăng ký chứng khoán tập trung tại VSD có SHNN đạt từ 50%, đồng thời gửi thông báo cho doanh nghiệp (các thông tin này doanh nghiệp hiện nay cũng có thể theo dõi).

Mặt khác, theo quy định tại Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 6/10/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn CBTT trên TTCK (Thông tư số 155/2015/TT-BTC) và dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 155/2015/TT-BTC, cổ đông phải báo cáo CTĐC khi trở thành cổ đông lớn hoặc thay đổi sở hữu qua các ngưỡng 1%. Do đó, doanh nghiệp có trách nhiệm theo dõi tỷ lệ SHNN, tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn và thực hiện thủ tục đăng ký mã số giao dịch tại VSD trong vòng 07 ngày làm việc, kể từ ngày đáp ứng cả 02 điều kiện trên.

Đối với các doanh nghiệp khác không phải CTĐC, khi đáp ứng 2 điều kiện trên (đối với công ty cổ phần) hoặc khi có tỷ lệ SHNN trên 50% (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn) phải làm thủ tục đăng ký mã số giao dịch khi mở tài khoản giao dịch chứng khoán hoặc khi đáp ứng điều kiện.

Theo pháp luật doanh nghiệp, cổ đông hoặc nhóm cổ đông khi sở hữu một lượng cổ phần nhất định sẽ có một số quyền có thể ảnh hưởng đến hoạt động, quyết định của công ty. Thiết nghĩ, tỷ lệ 25% đảm bảo mức đủ để ảnh hưởng tới quyết định của doanh nghiệp. Theo đó, nhóm nghiên cứu đề xuất bổ sung tiêu chí 25% vốn điều lệ do cổ đông lớn và người có liên quan sở hữu được dựa trên các quy định về quyền của cổ đông lớn theo Luật Doanh nghiệp và nghĩa vụ của đối tượng này khi tham gia TTCK.

Theo pháp luật chứng khoán quy định nhà đầu tư khi muốn sở hữu từ 25% vốn có quyền biểu quyết của CTĐC phải thực hiện chào mua công khai. Mức 25% được xác định trên cơ sở có ảnh hưởng lớn đến quyết định của công ty. Như vậy, ngưỡng 25% là hợp lý và phù hợp với pháp luật về chứng khoán.

Cùng với đề xuất Phương án 3, để kiểm soát việc CTĐC thông qua việc thành lập công ty con (sở hữu 100% hoặc trên 50% vốn điều lệ của công ty con) để được hưởng các điều kiện là doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư vào các ngành nghề hạn chế tham gia của NĐTNN, đề xuất, bổ sung điều kiện đối với CTĐC là tổ chức kinh tế có trên 50% vốn nước ngoài: (i) không góp vốn vào các doanh nghiệp có ngành, nghề mà NĐTNN chưa được tiếp cận thị trường; (ii) không được sở hữu trên 50% vốn điều lệ của công ty có ngành nghề tiếp cận thị trường có điều kiện. Trường hợp vượt tỷ lệ này sẽ phải thực hiện giảm phần vốn góp của NĐTNN xuống ít nhất 50% vốn điều lệ. Điều kiện này cũng được áp dụng đối với doanh nghiệp thực hiện thông báo SHNN.

Như vậy, ngoài điều kiện đảm bảo tỷ lệ SHNN theo quy định tại danh mục hạn chế tiếp cận thị trường, hồ sơ thông báo SHNN khi nộp UBCKNN phải có tài liệu chứng minh việc góp vốn vào các doanh nghiệp bị hạn chế ĐTNN. Trường hợp nếu doanh nghiệp không có ngành nghề bị hạn chế tỷ lệ SHNN nhưng có góp vốn trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác có hoạt động ngành nghề hạn chế NĐTNN thì SHNN sẽ bị xét hạn chế 50% vốn điều lệ.

Giải pháp này sẽ làm thay đổi lớn tới sự tham gia của NĐTNN cũng như của doanh nghiệp có vốn nước ngoài; xáo trộn không nhỏ tới giao dịch của thị trường nếu áp dụng ngay sau khi Luật Chứng khoán năm 2019 có hiệu lực. Để đảm bảo sự thay đổi chính sách không tác động lớn tới hoạt động TTCK, cần có bước đệm để doanh nghiệp có thời gian tổ chức lại hoạt động kinh doanh, nhà đầu tư dần thích ghi, do vậy, nhóm nghiên cứu đề xuất thời hạn tuân thủ quy định về SHNN trong trường hợp này là 02 năm đối với các CTĐC.

Ưu điểm: Phương án này phản ánh đúng bản chất của doanh nghiệp bị chi phối bởi cổ đông nước ngoài; doanh nghiệp kiểm soát được NĐTNN là cổ đông lớn có ảnh hưởng đến quyết định của công ty; doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tham gia của NĐTNN; không làm xáo trộn hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN tham gia TTCK.

Nhược điểm: Có sự khác biệt với doanh nghiệp thông thường trong trường hợp doanh nghiệp có thể không được coi là NĐTNN trên TTCK nhưng lại được coi là NĐTNN khi đầu tư theo pháp luật đầu tư nếu không có các giải pháp kiểm soát, hạn chế ĐTNN và cho phép CTĐC được quyết định tỷ lệ SHNN tại công ty nhỏ hơn tỷ lệ sở hữu theo Điều ước quốc tế và pháp luật trong nước quy định.

Nhằm mục tiêu đảm bảo thuận lợi, không ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, hạn chế sự cách biệt giữa quy định về NĐTNN đối với loại hình doanh nghiệp này; đồng thời dung hòa lợi ích doanh nghiệp và khả năng quản lý, giám sát của cơ quan quản lý, nhóm nghiên cứu nhận thấy, phương án 3 là khả thi nhất và khuyến nghị nội dung này được xem xét đưa vào quy định tại Nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán 2019 đang được soạn thảo và trình Chính phủ thông qua để có hiệu lực từ 01/01/2021.