Skip to content
ssc.gov.vn
Kỷ niệm 24 năm thành lập Ngành Chứng khoán Việt Nam
Ngành Chứng khoán Việt Nam không ngừng lớn mạnh
265
15/11/2020

Trải qua 24 năm thành lập và hoạt động của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và hơn 20 năm phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK), ngành Chứng khoán Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, đáng tự hào, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước, góp phần quan trọng vào thành công chung của đất nước trong thời kỳ đổi mới và từng bước đưa nền kinh tế hội nhập với khu vực và quốc tế.

Một số thành quả đạt được của ngành Chứng khoán Việt Nam

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng hoàn thiện, đồng bộ, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển ngành Chứng khoán

Kể từ khi có quyết định thành lập UBCKNN (Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996 của Chính phủ), 8 tháng sau đó, vào ngày 25/8/1997, UBCKNN chính thức đi vào hoạt động. Một năm sau, hàng loạt những văn bản pháp quy quan trọng liên quan đến việc xây dựng và phát triển TTCK được Chính phủ ban hành như: Nghị định số 48/1998/NĐ-CP (Nghị định 48) ngày 11/7/1998 về chứng khoán và TTCK - Văn bản “khai sinh” ra hoạt động của TTCK Việt Nam; Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập hai Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Trên cơ sở Nghị định 48, UBCKNN đã hoàn thành các quy chế, Thông tư hướng dẫn, các quy trình nghiệp vụ.

Trước những yêu cầu ngày càng cao của TTCK, cũng như tham khảo kinh nghiệm thế giới, Luật Chứng khoán đầu tiên đã được xây dựng và được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Đây là bước tiến lớn, là dấu mốc quan trọng nhất trong công tác quản lý TTCK theo luật và chuẩn mực quốc tế. Sau hơn 4 năm đi vào thực tiễn, để đảm bảo thúc đẩy TTCK phát triển an toàn, hiệu quả phù hợp với thực tiễn phát sinh và thông lệ quốc tế, cơ quan quản lý đã trình cấp có thẩm quyền ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Chứng khoán (Luật Chứng khoán 2010) được Quốc hội thông qua ngày 24/10/2010 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2011.

Cùng với Luật Chứng khoán 2010, 70 văn bản quy phạm  hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Chứng khoán được ban hành và sửa đổi, bổ sung kịp thời, góp phần tạo lập khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, đồng bộ, điều chỉnh toàn diện hoạt động chứng khoán và TTCK, từng bước phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế. Việc thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ đã giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, qua đó góp phần đưa Luật Chứng khoán vào cuộc sống, bảo đảm sự thống nhất, hiệu quả trong áp dụng pháp luật.

Theo thời gian, Luật Chứng khoán 2010 cho thấy một số tồn tại, hạn chế trong quá trình áp dụng vào thực tiễn, trong khi TTCK Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng với nhiều sản phẩm mới, TTCK phái sinh ra đời…  Để khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật Chứng khoán hiện hành, UBCKNN đã xây dựng Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 (Luật Chứng khoán 2019) được Quốc hội khóa XIV thông qua vào ngày 26/11/2019, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021. Việc ban hành Luật Chứng khoán 2019 cùng nhiều nghị định và các thông tư hướng dẫn thi hành Luật dự kiến được ban hành trong năm 2020, đầu năm 2021 sẽ tạo lập khung khổ pháp lý toàn diện, đồng bộ, đầy đủ để vận hành và tạo cơ sở để TTCK tiếp tục phát triển ổn định, bền vững, an toàn, đáp ứng yêu cầu hội nhập, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, đảm bảo TTCK là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế.

TTCK ngày càng phát triển, trở thành kênh huy động và phân bổ vốn quan trọng cho nền kinh tế

TTCK Việt Nam ngày càng trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, quy mô huy động vốn qua TTCK giai đoạn 2011 – 2020 (tính đến tháng 6/2020) đạt trên 2,4 triệu tỷ đồng, gấp 8,2 lần so với giai đoạn 2000 - 2010, đóng góp bình quân 20% tổng vốn đầu tư xã hội. Sự phát triển của TTCK Việt Nam thể hiện qua sự phát triển của các thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP), thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) và TTCK phái sinh. Cụ thể:

Đối với thị trường cổ phiếu:

TTCK Việt Nam chính thức đi vào vận hành với sự kiện khai trương TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh vào ngày 20/8/2000 (nay là Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh - HOSE). Phiên giao dịch đầu tiên trên TTCK Việt Nam diễn ra vào ngày 28/7/2000 chỉ với 2 mã cổ phiếu (REE và SAM). Đến cuối năm 2000, TTCK Việt Nam có thêm 3 mã chứng khoán nâng tổng số mã chứng khoán giao dịch trên thị trường là 5 mã với 32,1 triệu cổ phiếu niêm yết, giá trị vốn hóa thị trường chỉ đạt 986 tỷ đồng, chiếm 0,28% GDP.

 Đến nay, TTCK Việt Nam có sự tăng trưởng vượt bật. Tính đến cuối tháng 09/2020 , toàn thị trường có 1.631 mã cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết/đăng ký giao dịch (ĐKGD) với quy mô niêm yết, ĐKGD của thị trường đạt gần 1.437 nghìn tỷ đồng, tăng gần 6,5 lần so với năm 2010. Quy mô vốn hóa của thị trường tại thời điểm cuối tháng 8/2020 đã đạt gần 68,9% GDP.

Tiến trình CPH giai đoạn 2011 - 2019, thoái vốn qua 02 SGDCK là 621 doanh nghiệp, huy động hơn 219 nghìn tỷ đồng, trong đó tổng giá trị cổ phần bán được giai đoạn 2016 - 2019 cao gấp 7 lần so với giai đoạn 2011 - 2015. Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2020, mặc dù các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do dịch COVID-19 nhưng tổng mức huy động vốn trên TTCK ước đạt 259.774 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Đối với thị trường TPCP:

Từ năm 2009, với việc hình thành thị trường TPCP chuyên biệt, việc đấu thầu, niêm yết giao dịch TPCP được thực hiện tại SGDCK Hà Nội (HNX). Trong 10 năm qua (2009 - 2019), thị trường trái phiếu có tốc độ tăng trưởng bình quân 27%/năm là mức tăng cao nhất trong các nền kinh tế mới nổi tại khu vực Đông Á. Các sản phẩm TPCP phát triển ngày càng đa dạng, là công cụ đầu tư an toàn, hiệu quả cho mọi loại hình nhà đầu tư. Nếu như năm 2009, trên thị trường TPCP chỉ có các sản phẩm kỳ hạn từ dưới một năm cho đến 10 năm thì đến nay trên thị trường TPCP có đầy đủ các kỳ hạn từ kỳ hạn ngắn 3 - 5 năm đến kỳ hạn dài 20 năm, 30 năm với quy mô huy động qua đấu thầu TPCP trong năm 2019 gấp 7,6 lần so với năm 2010, dư nợ trái phiếu đạt 20% GDP.

Tính đến hết tháng 9/2020, toàn thị trường có 442 mã trái phiếu niêm yết với giá trị đạt hơn 1.301 nghìn tỷ đồng, gấp hơn 5 lần so với cuối năm 2010. Quy mô giao dịch trên thị trường tăng trưởng mạnh mẽ qua các năm, giá trị giao dịch bình quân phiên tăng từ mức 364 tỷ/phiên năm 2011 lên mức 9.730 tỷ/phiên 6 tháng đầu năm 2020.

Đối với thị trường TPDN:

Thị trường TPDN Việt Nam bắt đầu hình thành từ năm 2000 nhưng thực sự phát triển mạnh trong giai đoạn từ năm 2011, khi Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành TPDN được ban hành và có hiệu lực. Tổng khối lượng TPDN phát hành trong giai đoạn 2011 - 2017 đạt 405.167 tỷ đồng, bình quân khối lượng phát hành khoảng 57.900 tỷ đồng/năm, trong đó phát hành riêng lẻ là chủ yếu. Năm 2018, quy mô của thị trường TPDN có sự tăng trưởng mạnh so với các năm trước, tăng khoảng 53% so với năm 2017 và tăng gấp 32 lần so với năm 2011 cho thấy các doanh nghiệp ngày càng quan tâm và tham gia huy động vốn qua phát hành trái phiếu bên cạnh kênh vay vốn tín dụng ngân hàng. Kỳ hạn phát hành chủ yếu từ 3 - 5 năm phù hợp với chu kỳ đầu tư của doanh nghiệp.

Tính đến ngày hết tháng 9/2020, có tổng cộng có 25 mã TPDN đang niêm yết với giá trị niêm yết đạt gần 30 nghìn tỷ đồng, gấp gần 3 lần so với cuối năm 2010. Giá trị giao dịch bình quân trong 6 tháng đầu năm 2020 đạt 147 tỷ đồng/phiên, gấp 15,4 lần so với năm 2010. Dư nợ thị trường TPDN đạt 10,9% GDP.

Đối với TTCK phái sinh và các sản phẩm mới

TTCK phái sinh chính thức khai trương vào ngày 10/8/2017 nhưng đã có những bước tăng trưởng tốt và ổn định với 2 sản phẩm là Hợp đồng tương lai (HĐTL) chỉ số cổ phiếu VN30 và HĐTL TPCP kỳ hạn 5 năm. Trong đó, HĐTL chỉ số VN30 được đánh giá là khá thành công, đáp ứng yêu cầu phòng vệ rủi ro và đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư. Tính đến tháng 10/2020, khối lượng giao dịch trung bình phiên năm 2020 đã đạt 164.092 hợp đồng/phiên, gấp gần 15 lần so với năm 2017. Khối lượng hợp đồng mở (OI) tại thời điểm cuối tháng 10 năm 2020 đạt 39,191 hợp đồng, tăng 136% so với cuối năm 2019. TTCK phái sinh ra đời và vận hành ổn định đã cung cấp thêm cho thị trường các công cụ phòng vệ và đầu tư.

Bên cạnh đó, sản phẩm CW đã khai trương niêm yết và giao dịch thành công vào ngày 28/6/2019. Từ khi triển khai đến cuối tháng 9/2020, đã có tổng cộng 118 mã CW được chào bán. Đây là sản phẩm mới được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng sản phẩm đầu tư, đánh dấu sự phát triển quan trọng của TTCK Việt Nam trong thời gian qua.

Hệ thống tổ chức thị trường, mô hình và cấu trúc thị trường ngày càng được nâng cấp phát triển

Cấu trúc TTCK Việt Nam ngày càng được hoàn thiện với sự ra đời của TTGDCK Hà Nội năm 2005 (nay là HNX) và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) năm 2006.

Các SGDCK, VSD đã thực hiện chức năng giao dịch, lưu ký, thanh toán chuyển giao chứng khoán thông suốt, an toàn. Đồng thời, chú trọng phát triển công nghệ thông tin, nguồn nhân lực, quản trị nội bộ và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đa dạng cho thị trường. Theo đó, cho phép rút ngắn thời gian thanh toán, cắt giảm và đơn giản hóa các thủ tục đăng ký, lưu ký chứng khoán, đăng ký niêm yết, đăng ký giao dịch chứng khoán. Thời gian thanh toán giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán cơ sở đã giảm từ T+3 xuống T+2. Cơ chế bù trừ đối tác trung tâm (CCP) đã được triển khai từ tháng 8/2017 cho TTCK phái sinh, đảm bảo hoạt động bù trừ, thanh toán thông suốt cho thị trường này; việc chuyển chức năng thanh toán tiền giao dịch TPCP sang Ngân hàng Nhà nước được triển khai từ tháng 8/2017 đã đáp ứng yêu cầu về an toàn thanh toán trên thị trường TPCP. Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án thành lập SGDCK Việt Nam theo mô hình công ty mẹ - con trên cơ sở sắp xếp lại HNX và HOSE.

Năng lực quản lý, giám sát, thanh tra của UBCKNN từng bước được nâng cao, góp phần giữ vững ổn định, kỷ cương pháp luật của thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư, tăng niềm tin đối với thị trường

Hoạt động quản lý và giám sát TTCK lấy việc bảo đảm ổn định, an toàn của thị trường và quyền lợi của công chúng đầu tư làm trọng tâm. Theo đó, thiết lập cơ chế giám sát TTCK bài bản, chuyên nghiệp theo thông lệ quốc tế. Công tác thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK ngày càng được tăng cường. Việc tổ chức thanh tra chuyên ngành Chứng khoán tại UBCKNN đã được chấp thuận nhằm đảm bảo thực thi các chức năng quản lý, giám sát, thanh tra và cưỡng chế thực thi theo các tiêu chuẩn của IOSCO và mục tiêu, giải pháp tại Chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2011 - 2020.

Quy chế phối hợp quản lý, giám sát chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an, các Bộ, ngành liên quan đã được ban hành và triển khai thực hiện phát huy hiệu quả quản lý nhà nước trên thị trường tài chính. Chế tài xử phạt cũng đã được nâng lên nhằm tăng tính răn đe đối với các hành vi vi phạm trên thị trường. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý, giám sát, thanh tra có đủ trình độ, năng lực cùng với việc hoàn thiện các dự án công nghệ thông tin đã hỗ trợ và nâng cao hiệu quả cho công tác thanh tra, giám sát TTCK.

Các định chế trung gian thị trường đã có sự phát triển mạnh về số lượng, quy mô, tính chuyên nghiệp và sức cạnh tranh ngày càng cao

Công ty chứng khoán (CTCK): Tính đến hết tháng 9/2020, toàn thị trường có 79 CTCK hoạt động. Chất lượng hoạt động của các CTCK đã được cải thiện. Toàn bộ các CTCK đã xây dựng quy trình quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, hệ thống giao dịch chứng khoán được kết nối trực tuyến hoàn toàn. Việc tái cấu trúc nội tại của các CTCK diễn ra mạnh mẽ thông qua việc thay đổi cơ cấu cổ đông lớn và từng bước tiến hành việc nâng cao năng lực tài chính thông qua nguồn vốn bổ sung từ các cổ đông mới.

Công ty quản lý quỹ (CTQLQ): Tính đến cuối tháng 9/2020 có 44 CTQLQ đang hoạt động bình thường với trung bình tăng trưởng tổng tài sản quản lý của các CTQLQ trong 10 năm qua là hơn 14%/năm. Hoạt động tái cấu trúc các CTQLQ cũng đạt được những kết quả nhất định, góp phần giảm bớt số lượng các CTQLQ hoạt động không hiệu quả, tăng chất lượng cung cấp dịch vụ của các CTQLQ hoạt động lành mạnh.

Các quỹ đầu tư: đã có sự thay đổi về chất, theo đó quỹ thành viên, quỹ đóng dần được thay thế bằng các thế hệ quỹ đại chúng mới như quỹ mở, quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản. Đây là các sản phẩm quỹ đầu tư hiện đại, theo thông lệ quốc tế và được đánh giá cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đặc biệt quỹ mở, quỹ ETF là các loại hình quỹ hoạt động hiệu quả nhất do có phương thức huy động vốn linh hoạt, minh bạch và an toàn cho tài sản của quỹ. Tính đến tháng 10/2020, thị trường có 52 quỹ đầu tư chứng khoán, trong đó có 33 quỹ mở, 06 quỹ ETF, 01 quỹ đầu tư bất động sản.

Hệ thống nhà đầu tư phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng

Từ 3.000 tài khoản năm 2000, đến hết tháng 9/2020 đã đạt gần 2,63 triệu tài khoản, trong đó có 34.120 tài khoản là của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) giúp thu hút nguồn vốn ĐTNN, góp phần phát triển nhiều doanh nghiệp niêm yết thành các doanh nghiệp có thương hiệu quốc tế và quảng bá hình ảnh kinh tế Việt Nam. Giá trị danh mục đầu tư của nhà ĐTNN chiếm khoảng 20% vốn hóa thị trường cổ phiếu. Bên cạnh đó, sự tham gia tích cực trên TTCK của các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, CTCK, CTQLQ, các doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư đã dần góp phần hình thành một hệ thống các nhà đầu tư chuyên nghiệp trên TTCK.

Như vậy, có thể nói sau 24 năm phát triển, ngành Chứng khoán đã đạt được những thành tựu nhất định, thiết lập được: 01 thị trường cổ phiếu niêm yết có quy mô vốn lớn từ 120 tỷ đồng trở lên; 01 thị trường cổ phiếu niêm yết có quy mô vốn vừa và nhỏ từ 30 tỷ đồng trở lên; 01 thị trường giao dịch cổ phiếu của công ty đại chúng chưa niêm yết với vốn từ 10 tỷ đồng trở lên; 01 thị trường TPDN cho các doanh nghiệp vay nợ bên cạnh thị trường của các tổ chức tín dụng; 01 thị trường TPCP chuyên biệt, tập trung hóa hoạt động phát hành và giao dịch thứ cấp các TPCP; 01 TTCK phái sinh giúp doanh nghiệp và nhà đầu tư phòng ngừa và phân tán rủi ro. Có thể thấy, cấu trúc của TTCK đã tương đối hoàn chỉnh bao gồm thị trường huy động vốn và thị trường phân tán rủi ro với những sản phẩm cơ bản phong phú hơn rất nhiều so với hai thập kỷ trước.

Bên cạnh những thành quả đáng tự hào trên, ngành Chứng khoán vẫn đang gặp phải một số khó khăn, tồn tại, hạn chế như: (i) khung pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên TTCK vẫn còn một số hạn chế, chưa đồng bộ; (ii) cấu trúc của TTCK còn có sự mất cân đối trong từng cấu phần và giữa các cấu phần của thị trường, cụ thể là quy mô thị trường trái phiếu niêm yết chỉ tương đương khoảng 30% quy mô của thị trường cổ phiếu niêm yết; quy mô thị trường TPDN còn nhỏ, trong khi các tổ chức định mức tín nhiệm chưa phát triển; (iii) hàng hóa trên TTCK chưa thực sự đa dạng, chất lượng hàng hóa cần tiếp tục được cải thiện; (iv) số lượng nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam vẫn còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhà đầu tư cá nhân vẫn là đối tượng chiếm đa số trên thị trường; (v) năng lực hoạt động và cạnh tranh của một số tổ chức trung gian còn hạn chế thể hiện ở quy mô vốn và phạm vi cung cấp dịch vụ; (vi) hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra gặp nhiều khó khăn do các hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường ngày càng tinh vi, phức tạp.

Định hướng phát triển trong thời gian tới

Mục tiêu đề ra cho ngành Chứng khoán trong thời gian tới là vào năm 2025 quy mô thị trường cổ phiếu đạt mức 120% GDP, quy mô thị trường trái phiếu đạt mức 55% GDP. Để có thể đạt được mục tiêu này cần có sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp với các Bộ, ngành, doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng như TTCK cần nhận được sự hậu thuẫn từ nhiều yếu tố mang tính nền tảng như kinh tế vĩ mô, thể chế chính sách. Trong thời gian tới, cần tập trung phát triển các công việc trọng tâm như sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, khung pháp lý đồng bộ cho TTCK. Hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn Luật Chứng khoán 2019 và các chính sách phát triển TTCK cần tích cực xây dựng và hoàn thiện cũng như việc nghiên cứu phương án triển khai giao dịch TPDN và xây dựng khuôn khổ pháp lý cho phát triển các dịch vụ mới trên TTCK cần được đẩy nhanh, đảm bảo đúng lộ trình đã phê duyệt. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong điều hành TTCK, hoạt động giám sát và cưỡng chế thực thi nhằm đảm bảo an toàn cho TTCK và cả hệ thống tài chính quốc gia.

Thứ hai, hoàn thiện và phát triển cấu trúc TTCK, nâng cao khả năng huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp. Đối với thị trường cổ phiếu: dịch chuyển đồng bộ trong phương thức quản lý hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, cụ thể là dịch chuyển từ cơ chế quản lý theo chất lượng sang cơ chế quản lý dựa trên công bố thông tin đầy đủ. Tạo lập thị trường giao dịch chứng khoán phát hành riêng lẻ có quản lý của nhà nước để giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư công chúng và tạo điều kiện huy động vốn cho doanh nghiệp. Đa dạng phương thức định giá cổ phần chào bán ra công chúng. Hoàn thiện cơ cấu các CTNY theo ngành, lĩnh vực…

Thứ ba, tăng tính hiệu quả của TTCK: Thành lập SGDCK Việt Nam theo mô hình công ty mẹ - con trên cơ sở sắp xếp lại HNX và HOSE. Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, đổi mới toàn diện và đồng bộ hệ thống công nghệ phục vụ hoạt động quản lý, giám sát giao dịch bù trừ thanh toán chứng khoán. Chú trọng phát triển bền vững và nâng cao chất lượng quản trị công ty trong các CTNY của Việt Nam đạt trên mức bình quân khu vực Đông Nam Á. Phát triển và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, khuyến khích đầu tư dài hạn, cải thiện chất lượng cầu đầu tư nhằm hướng tới cầu đầu tư bền vững. Nâng hạng TTCK Việt Nam trên danh sách các thị trường mới nổi trước năm 2026 theo tiêu chuẩn phân hạng TTCK của tổ chức xếp hạng quốc tế.

Thứ tư, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh của các định chế trung gian thị trường và các hiệp hội, tổ chức phụ trợ: Lành mạnh hóa tình hình tài chính, nâng cao năng lực quản trị của các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo quy định pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện quy định pháp lý để khuyến khích sự phát triển của các quỹ Hưu trí bổ sung tự nguyện, đa dạng hóa cấu trúc hoạt động của quỹ đại chúng, các kênh phân phối chứng chỉ quỹ. Phát huy vai trò tự quản của các hiệp hội ngành Chứng khoán, tăng cường năng lực, hiệu quả của các tổ chức kiểm toán.

Thứ năm, tăng cường năng lực quản lý, giám sát, thanh tra và cưỡng chế thực thi của cơ quan quản lý nhà nước trên cơ sở cho phép UBCKNN có đủ quyền lực để thực thi tốt các chức năng quản lý, giám sát, thanh tra và cưỡng chế thực thi.

Thứ sáu, hội nhập thị trường tài chính thế giới theo lộ trình phát triển và đáp ứng yêu cầu về an ninh tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh, khả năng hạn chế rủi ro, từng bước thu hẹp về khoảng cách phát triển giữa TTCK Việt Nam so với các thị trường khác trong khu vực và trên thế giới.