Skip to content
ssc.gov.vn
Toàn cảnh - Sự kiện
Mô hình thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) Việt Nam
205
15/11/2015
Chứng khoán phái sinh (CKPS) là một trong những công cụ tài chính thông dụng trên thị trường quốc tế. Việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) cùng với thị trường chứng khoán (TTCK) cơ sở đã được xác định từ năm 2007 theo Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Tiếp đó, năm 2012, Chính phủ ban hành Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 về Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cũng xác định mục tiêu phát triển thị trường phái sinh (TTPS) để hoàn thiện cấu trúc TTCK Việt Nam. Đây là cơ sở để Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và các Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK), Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (TTLKCK) tổ chức nghiên cứu và lập Đề án xây dựng và phát triển TTCK Việt Nam, đề xuất Bộ Tài chính trình Chính phủ. Năm 2014, Đề án đã được Chính phủ phê duyệt bằng Quyết định số 366/2014/QĐ-TTg ngày 11/3/2014.

Theo đó, lộ trình phát triển TTCKPS được chia 3 giai đoạn như sau: Giai đoạn 2013 - 2015: Xây dựng khung pháp lý, hoàn thiện cơ sở vật chất, công nghệ bao gồm hệ thống giao dịch, thanh toán bù trừ CKPS, hệ thống giám sát và công bố thông tin (CBTT) tại các Sở Giao dịch Chứng khoán (Sở GDCK), TTLKCK và thành viên thị trường, bảo đảm phù hợp với các sản phẩm phái sinh cơ bản và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để đưa vào hoạt động.

Giai đoạn 2016 - 2020: Tổ chức vận hành TTCKPS, trước mắt là các sản phẩm phái sinh dựa trên chỉ số chứng khoán, trái phiếu chính phủ (TPCP) và cổ phiếu.

Giai đoạn sau 2020: Hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của TTCKPS, từng bước đa dạng hóa các sản phẩm giao dịch. Mở rộng đối tượng thành viên tham gia thị trường, cải tiến hạ tầng công nghệ, nâng cao chất lượng cơ sở nhà đầu tư, tiến tới xây dựng một TTCKPS thống nhất dựa trên các tài sản cơ sở theo thông lệ quốc tế, hoạt động công khai, minh bạch, hiệu quả, góp phần vào sự phát triển của thị trường tài chính.

Nhằm cụ thể hóa chủ trương và định hướng phát triển thành hành động, Nghị định số 42/2015/NĐ-CP (Nghị định 42) quy định về CKPS và TTPS đã được ban hành ngày 05/5/2015, tạo khung pháp lý cơ bản cho việc tổ chức TTPS tại Việt Nam. Nghị định 42 đã nêu rõ những vấn đề cơ bản về CKPS cũng như mô hình tổ chức TTCKPS tại Việt Nam, bao gồm các đối tượng sau:

(i) Bộ Tài chính và UBCKNN, với tư cách là cơ quan quản lý trực tiếp, được quyền cấp phép cho các hoạt động kinh doanh, giao dịch CKPS cũng như cho các sản phẩm phái sinh niêm yết tại Sở GDCK.

(ii) Sở GDCK là nơi thiết kế sản phẩm CKPS và thực hiện niêm yết, tổ chức giao dịch các sản phẩm đó sau khi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

(iii) TTLKCK sẽ thực hiện bù trừ và thanh toán cho các giao dịch CKPS theo mô hình đối tác bù trừ trung tâm (Central Clearing Counterparty - CCP). Với mô hình CCP, TTLKCK sẽ đóng vai trò người bán đối với mọi người mua và người mua đối với mọi người bán nhằm đảm bảo nghĩa vụ và khả năng thanh toán của các bên tham gia.

(iiii) Các tổ chức như các tổ chức như công ty chứng khoán (CtyCK), ngân hàng thương mại đủ điều kiện và được chấp thuận cung cấp các dịch vụ và tham gia giao dịch trên TTPS.

Như vậy, với tư cách là những đơn vị tổ chức thị trường, Sở GDCK Hà Nội (HNX) và TTLKCK Việt Nam (VSD) sẽ là hai đơn vị chuẩn bị và triển khai đưa TTPS đi vào hoạt động. Dù hoạt động độc lập, hai đơn vị sẽ cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ trong việc tổ chức và vận hành TTCKPS một cách hiệu quả, minh bạch và công bằng.

Sở GDCK

Sở GDCK tổ chức giao dịch CKPS với những nguyên tắc tương tự như đối với giao dịch chứng khoán thông thường: đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả. Để tổ chức hoạt động giao dịch CKPS, Sở GDCK thực hiện những chức năng sau: (i) Thiết kế và niêm yết sản phẩm; (ii) Vận hành hệ thống giao dịch; (iii) Quản lý thành viên giao dịch và (iv) Ban hành các quy chế, quy định và quy trình liên quan.

Thiết kế sản phẩm

Khác với chứng khoán thông thường, các sản phẩm phái sinh do Sở GDCK thiết kế và thực hiện niêm yết. Nếu như ở thị trường cơ sở, chất lượng của sản phẩm chủ yếu phụ thuộc vào bản thân tài sản cơ sở thì ở TTPS, chất lượng sản phẩm còn phụ thuộc vào việc thiết kế sản phẩm của Sở GDCK. Mỗi nội dung trong hợp đồng như tên gọi, bước giá, biên độ dao động giá, kỳ hạn… đều phải được cân nhắc kỹ nhằm đảm bảo phù hợp yêu cầu thị trường, với tập quán đầu tư và khả năng giám sát thị trường.

Để đảm bảo phục vụ đúng nhu cầu đầu tư của thị trường nhưng vẫn phòng ngừa được các rủi ro không đáng có, SGDCK sẽ lựa chọn các tài sản cơ sở không chỉ tốt mà còn phải nhận được sự quan tâm lớn từ thị trường, đồng thời đa dạng hóa các loại sản phẩm phái sinh nhằm cung cấp đủ công cụ cho các nhà đầu tư.

Ở các thị trường phát triển, CKPS đã được xây dựng trên hầu hết các loại tài sản cơ sở phổ biến như cổ phiếu niêm yết, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, tỷ giá, lãi suất... Đối với Việt Nam, do các loại tài sản cơ sở chưa đa dạng, đồng thời nhà đầu tư cần có thời gian để tìm hiểu và làm quen với các công cụ đầu tư mới này, Sở GDCK Hà Nội bước đầu sẽ xây dựng những sản phẩm, công cụ đơn giản nhất dựa trên những tài sản cơ sở quen thuộc đối với nhà đầu tư. Trong giai đoạn trước mắt, các tài sản cơ sở được lựa chọn ban đầu là TPCP và chỉ số cổ phiếu. Loại sản phẩm phái sinh được lựa chọn ban đầu là hợp đồng tương lai vì đây là sản phẩm đơn giản nhất trong các sản phẩm phái sinh (so với sản phẩm hợp đồng quyền chọn và sản phẩm phái sinh khác).

Với lựa chọn về sản phẩm và tài sản cơ sở như vậy, HNX đã tổ chức các chương trình khảo sát lấy ý kiến các đơn vị thành viên thị trường. Về cơ bản, các mẫu sản phẩm nhận được sự đồng thuận của các đơn vị thành viên, các góp ý xác đáng được Sở tiếp thu để hoàn thiện mẫu sản phẩm.

Ở các giai đoạn tiếp theo, khi CKPS đã trở nên phổ biến hơn và được nhà đầu tư đón nhận, Sở sẽ tiếp tục phát triển thêm các sản phẩm mới dựa trên các loại tài sản cơ sở đa dạng hơn.

Hệ thống giao dịch

Tương tự như trên TTCK cơ sở, hệ thống giao dịch CKPS cũng có những chức năng cơ bản về khớp lệnh với các loại lệnh tương tự như trên thị trường cơ sở: lệnh giới hạn (Limit order), lệnh thị trường (Market order)…; các quy định giới hạn về lệnh như biên độ dao động giá, giới hạn khối lượng lệnh. Bên cạnh đó, cơ chế giao dịch CKPS cũng có những đặc điểm khác biệt như các sản phẩm CKPS được niêm yết và giao dịch theo từng tháng đáo hạn với các mã hợp đồng riêng, các hợp đồng phái sinh phức tạp cũng sẽ có nhiều trường thông tin (giá thanh toán, giá thực hiện, phí quyền chọn...) hơn so với chứng khoán cơ sở mà nhà đầu tư cần phải quan tâm và nắm rõ để có thể giao dịch hiệu quả. Hệ thống giao dịch phái sinh cũng cần phát triển các chức năng giúp ổn định thị trường trong trường hợp thị trường cơ sở hoặc TTPS có những biến động mạnh bất thường như áp dụng giới hạn lệnh, hạn chế mở các vị thế mới hoặc sử dụng các biện pháp kỹ thuật khác nhằm ổn định thị trường.

Xác định việc xây dựng hệ thống giao dịch là công việc quan trọng, HNX đã sớm triển khai nghiên cứu xây dựng bài toán nghiệp vụ cho hệ thống. Đồng thời Sở cũng khẩn trương tìm hiểu đối tác xây dựng hệ thống, đảm bảo kết nối với VSD và các CtyCK thành viên cũng như với các hệ thống hiện tại của Sở.

Bên cạnh đó, để vận hành hệ thống giao dịch và quản lý thành viên giao dịch, HNX sẽ ban hành các quy chế, quy trình hoạt động liên quan đến hoạt động giao dịch CKPS tại Sở như quy chế giao dịch, quy chế thành viên…

Thành viên giao dịch

Theo Nghị định số 42 quy định về CKPS và TTPS, thành viên giao dịch sẽ bao gồm hai loại: thành viên giao dịch thông thường và thành viên giao dịch đặc biệt. Thành viên giao dịch đặc biệt là các ngân hàng thương mại, được đầu tư, giao dịch các CKPS có tài sản cơ sở là TPCP. Các thành viên giao dịch phái sinh sẽ có những quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản tương tự như đối với thành viên TTCK cơ sở. Thành viên giao dịch của Sở GDCK phái sinh được quyền: (i) Hoạt động tự doanh, tư vấn hoặc môi giới giao dịch CKPS cho nhà đầu tư; (ii) Nhận và thực hiện lệnh giao dịch của nhà đầu tư. Ngoài ra, thành viên được kết nối giao dịch với hệ thống giao dịch của SGDCK phái sinh, được quyền thu các loại phí đối với nhà đầu tư theo đúng quy định và có quyền tự nguyện chấm dứt tư cách thành viên khi có yêu cầu.

Một trong những nghĩa vụ quan trọng của thành viên giao dịch chính là nghĩa vụ CBTT. Trên cơ sở các quy định, cơ chế về báo cáo, CBTT, Sở GDCK phái sinh có thể nắm rõ và theo dõi tình hình hoạt động của các thành viên, từ đó quản lý và giảm thiểu các loại rủi ro có thể phát sinh qua cơ chế giám sát tuân thủ. Nội dung của nghĩa vụ báo cáo, CBTT khá đa dạng, có thể bao gồm các báo cáo về tình hình tài chính, báo cáo về hoạt động giao dịch, môi giới hoặc báo cáo về vị thế, các trường hợp bất thường…

Tương tự như đối với thị trường cơ sở, nghiệp vụ hoạt động của thành viên giao dịch CKPS rất đa dạng: các CtyCK có thể chỉ hoạt động tự doanh hoặc hoạt động môi giới, giao dịch với sự ủy thác từ các khách hàng của mình. Ngoài ra, thành viên giao dịch có thể đăng ký nghiệp vụ tạo lập thị trường (market maker).

Giao dịch phái sinh với đặc điểm đòn bẩy có khả năng tiềm ẩn những rủi ro cao trong trường hợp thị trường có những biến động bất lợi cho nhà đầu tư đòi hỏi CtyCK phải có khả năng kiểm soát và phòng ngừa rủi ro. Do vậy, điều kiện trở thành thành viên giao dịch CKPS so với thành viên trên thị trường cơ sở sẽ có phần khắt khe hơn. Ngoài những yêu cầu cơ bản về nghiệp vụ và hạ tầng công nghệ, các CtyCK phải đáp ứng và duy trì được các điều kiện tài chính như điều kiện về vốn khả dụng, tình hình kinh doanh...

Để chuẩn bị cho việc ra mắt TTPS, các thành viên cần phải trang bị đầy đủ về hạ tầng cơ sở kỹ thuật, về hệ thống giao dịch và đặc biệt là các quy trình nghiệp vụ liên quan. Do đây là một thị trường mới với các sản phẩm mới, việc xây dựng các quy trình nghiệp vụ giao dịch, môi giới và đặc biệt là quy trình quản trị nội bộ, quản lý rủi ro có vai trò rất quan trọng. Bên cạnh đó, công tác đào tạo, tuyên truyền nhằm giới thiệu và quảng bá sản phẩm phái sinh đến công chúng đầu tư cũng không thể xem nhẹ trong giai đoạn gần ra mắt thị trường.

Tuyên truyền, đào tạo

CKPS là sản phẩm bậc cao của thị trường tài chính, được sinh ra là công cụ phòng ngừa rủi ro nhưng bản thân nó cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Do vậy, công tác đào tạo, tuyên truyền kiến thức về sản phẩm mới này là rất cần thiết.

Bên cạnh việc tham gia viết giáo trình về phái sinh theo Đề án đào tạo của UBCKNN, Sở GDCK Hà Nội cũng tích cực chuẩn bị tài liệu và tham gia thuyết trình tại các hội nghị do UBCKNN tổ chức về CKPS. Đồng thời, Sở đã tổ chức những buổi giới thiệu, phổ biến kiến thức thông qua các buổi hội thảo, trong đó phải kể đến hội thảo về phái sinh cho nhà báo vừa được tổ chức cuối tháng 9 vừa qua.

Sở GDCK Hà Nội cũng phối hợp với các đối tác quốc tế để mời các chuyên gia quốc tế tham dự hội thảo, và chuẩn bị cho các đơn vị thành viên tham gia các chương trình khảo sát kinh nghiệm triển khai tại các thị trường trong khu vực, làm tiền đề cho sự chuẩn bị của các đơn vị thành viên khi tham gia thị trường.

Trong thời gian tới, Sở GDCK Hà Nội sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền về phái sinh tới các đơn vị thành viên và công chúng đầu tư với các chủ đề phù hợp theo tiến trình chuẩn bị cho sự ra đời của TTPS.

Với trọng trách được Bộ Tài chính giao, Sở GDCK Hà Nội hướng tới xây dựng một mô hình hoạt động hợp lý, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời đưa ra các sản phẩm phù hợp cho TTCKPS. Việc xây dựng TTCKPS thành công có thể đóng góp lớn cho sự phát triển của TTCK nói chung, cung cấp thêm một kênh đầu tư mới với nhiều công cụ đa dạng, đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư trong và ngoài nước.


Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà – SGDCK Hà Nội
Các bài viết khác: