Skip to content
ssc.gov.vn
Toàn cảnh - Sự kiện
Quản trị rủi ro trong các tổ chức tham gia thị trường chứng khoán phái sinh
205
15/11/2015
       Thị trường chứng khoán (TTCK) càng phát triển thì nhu cầu về phòng ngừa rủi ro càng lớn. Thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) phát triển có tác động ngược trở lại, giúp thúc đẩy, tạo độ sâu cũng như mở rộng hoạt động cho TTCK. Tuy nhiên, TTCKPS là thị trường bậc cao, có tính đòn bẩy cao và khá phức tạp. Do vậy, việc sử dụng công cụ chứng khoán phái sinh (CKPS) trong quản trị rủi ro (QTRR) muốn thành công thì cần phải có hệ thống, cơ cấu tổ chức hiệu quả. Bài viết này sẽ tập trung làm rõ một số nội dung về các tổ chức tham gia TTCKPS, mô hình QTRR và nguyên tắc về QTRR tại các tổ chức tài chính trong giao dịch CKPS.

Những tổ chức cần QTRR khi tham gia TTCKPS

 Những tổ chức phòng ngừa rủi ro

Những chủ thể chính có nhu cầu về QTRR bao gồm: những người có nhu cầu phòng ngừa rủi ro (hedgers), các nhà kinh doanh (dealers)…

Những chủ thể phòng ngừa rủi ro: là các tổ chức tham gia vào TTCKPS nhằm phòng ngừa rủi ro cho hoạt động của tổ chức. Những chủ thể này có thể là các quỹ đầu tư, các doanh nghiệp, các công ty bảo hiểm… hoặc cũng có thể là chính các tổ chức tài chính không thực hiện kinh doanh CKPS nhưng sử dụng CKPS nhằm phòng ngừa rủi ro hay QTRR cho hoạt động của chính mình.

Các chủ thể tham gia TTCKPS rất đa dạng, do vậy việc tham gia vào các giao dịch CKPS cụ thể sẽ tùy thuộc vào quy mô của tổ chức và quy mô cần phòng ngừa rủi ro.

Tại các tổ chức hay công ty thông thường thì phòng nguồn vốn sẽ chịu trách nhiệm quản lý dòng tiền của công ty thông qua việc tham gia trên thị trường tài chính. Trong trường hợp công ty tham gia các giao dịch CKPS nhằm phòng ngừa rủi ro tài chính thì chính họ sẽ thực hiện và quản lý các giao dịch này. Khi đó, họ thực hiện thuần túy chức năng bảo đảm tối ưu hóa các chi phí tài chính cho công ty, không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, cũng có trường hợp giám đốc tài chính của công ty chịu sức ép phải sử dụng CKPS để đầu cơ và kiếm lợi nhuận, và do chưa hiểu thấu đáo về thị trường cũng như không có hoạt động QTRR tốt nên dẫn đến việc có một số công ty đã tự tạo thêm rủi ro lớn hơn, thậm chí thua lỗ, phá sản.

Một mô hình khác trong QTRR của công ty là giao dịch CKPS được quản lý bởi một bộ phận khác bên ngoài bộ phận/phòng nguồn vốn. Ví dụ như giám đốc bộ phận giao dịch hàng hóa có thể trực tiếp phụ trách phòng ngừa rủi ro biến động giá cả hàng hóa.

Công ty cũng có thể thực hiện phân tán hoạt động giao dịch CKPS qua việc để cho các công ty con tự thực hiện phòng ngừa rủi ro cho hoạt động riêng của mình.

Các tổ chức kinh doanh chứng khoán (TCKDCK)

Đây chính là những tổ chức tài chính góp phần hình thành TTCKPS như các ngân hàng, các công ty chứng khoán (CtyCK)… qua việc yết giá mua vào và giá bán ra, thông thường họ sẽ kiếm lời dựa trên giá bán và giá mua. Tại các thị trường tài chính phát triển, các công ty kinh doanh CKPS đều kinh doanh các loại CKPS rất phức tạp với các chuyên gia có trình độ cao làm nhiệm vụ thiết kế các sản phẩm phái sinh mới, hoạch định chiến lược QTRR và định giá các sản phẩm phái sinh mới. Các tổ chức kinh doanh CKPS này cũng có bộ phận bán hàng (sales) làm nhiệm vụ tìm kiếm khách hàng tiềm năng, xác định nhu cầu QTRR của các khách hàng và thuyết phục khách hàng tham gia các giao dịch CKPS của công ty. Các tổ chức kinh doanh CKPS này cũng phải đầu tư khá nhiều tiền vào hệ thống phần cứng, phần mềm để quản lý các vị thế giao dịch CKPS. Do vậy, các TCKDCK đặc biệt cần thiết lập hệ thống QTRR hiệu quả khi tham gia TTCKPS.

Tổ chức QTRR trong tổ chức tham gia TTCKPS

Các nhà quản trị cấp cao và ban giám đốc của công ty có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động QTRR. Họ không nhất thiết phải là các chuyên gia về CKPS nhưng phải hiểu rõ các CKPS mà công ty mình tham gia sử dụng và hiểu tại sao lại sử dụng các công cụ CKPS đó. Điều quan trọng nhất là các nhà quản trị cấp cao và ban giám đốc công ty phải xây dựng được hệ thống tổ chức QTRR, các chính sách và phương thức quản lý quá trình sử dụng các CKPS.

Một tổ chức phải xây dựng được một cơ cấu tổ chức để tiến hành QTRR một cách hiệu quả. Mô hình hay phương thức QTRR khác nhau ở mỗi tổ chức, tùy thuộc vào việc đó là tổ chức kinh doanh CKPS hay là các tổ chức cần phòng ngừa rủi ro.

Đối với TCKDCK với mục tiêu sử dụng CKPS để kiếm lời, họ tham gia vào nhiều giao dịch khác nhau và do vậy thường xây dựng hệ thống QTRR dưới dạng tập trung cho toàn bộ công ty. Các yếu tố trên thị trường tài chính như biến động lãi suất, tỷ giá, giá các loại chứng khoán… đều có mối quan hệ với nhau nên việc tách bạch QTRR giữa các bộ phận kinh doanh trái phiếu (fixed income), giao dịch kinh doanh trên các thị trường quốc tế và bộ phận kinh doanh cổ phiếu sẽ không bảo đảm hiệu quả. Tại hầu hết các tổ chức thường có một nhà quản trị rủi ro chuyên thực hiện việc báo cáo với ban giám đốc về trạng thái rủi ro. Nhà quản trị rủi ro này phải có quyền tiếp cận và nhận được mọi thông tin tài chính, giao dịch trên thị trường và thông tin thống kê khác nhằm đánh giá được tình trạng rủi ro, thậm chí có quyền yêu cầu bộ phận giao dịch ngừng giao dịch hoặc giảm vị thế hay tất toán các vị thế giao dịch bất lợi, gây ra nhiều rủi ro. Ở chiều ngược lại, bộ phận giao dịch không được tác động trở lại đối với nhà quản trị rủi ro. Tại các tổ chức tham gia vào nhiều giao dịch, đặc biệt là các tổ chức lớn sẽ phải lập một Ban quản trị rủi ro chịu trách nhiệm QTRR của toàn công ty và do một nhà quản trị cấp cao phụ trách. Yêu cầu quan trọng nhất nhằm xây dựng một hệ thống QTRR hiệu quả là phải bảo đảm tính độc lập của QTRR. Một số tổ chức tài chính đã không thực hiện được chức năng QTRR độc lập, đôi khi bộ phận nguồn vốn tham gia vào cả các giao dịch CKPS để kiếm lời trong khi chức năng chính của họ là quản lý dòng tiền. Việc không tách bạch giữa bộ phận giao dịch và kiểm soát nội bộ đã cho thấy không những làm tăng thêm rủi ro mà thậm chí dẫn đến công ty bị phá sản. Ví dụ điển hình của QTRR yếu kém là trường hợp vụ sụp đổ của Barings năm 19951.

Các hoạt động về CKPS của TCKDCK thường tách ra thành bộ phận giao dịch (front office), bộ phận sau giao dịch (back office), và bộ phận trung gian (middle office). Các TCKDCKPS cần có bộ phận pháp lý nhằm bảo đảm các hợp đồng là hợp pháp và các giao dịch là phù hợp với quy định hiện hành. Bộ phận kế toán có vai trò rất quan trọng, nhất là đối với các giao dịch CKPS, thực hiện cung cấp định kỳ các số liệu cho bộ phận kiểm toán. Kiểm toán có trách nhiệm bảo đảm rằng hệ thống sổ sách kế toán, báo cáo tài chính phải phù hợp với chính sách, chế độ kế toán. Kiểm toán được thực hiện định kỳ nhưng QTRR là một tiến trình liên tục đòi hỏi tiến hành qua nhiều bước hơn. Sơ đồ trên minh họa ví dụ về hoạt động QTRR, bao gồm các CKPS của TCKDCK.

QTRR trên toàn công ty là một xu thế tổ chức QTRR tại các tập đoàn tài chính, theo đó mọi rủi ro được hợp nhất lại vào một bộ phận riêng biệt. Ví dụ như tại Tập đoàn Daiwa Securities, mô hình QTRR tổng thể được áp dụng chung cho toàn bộ tập đoàn. Theo đó, một Ban QTRR của tập đoàn trực thuộc Ban điều hành Tập đoàn chịu trách nhiệm đánh giá hệ thống QTRR và tình trạng rủi ro chung cho Tập đoàn, đồng thời quyết định chính sách, kế hoạch về QTRR. Giám đốc QTRR có trách nhiệm giám sát và kiểm soát QTRR tổng thể, kiểm soát rủi ro của tập đoàn, độc lập với hoạt động kinh doanh; thực hiện báo cáo thường xuyên cho Ban QTRR. Giám đốc quản trị rủi ro trực tiếp phụ trách QTRR tập đoàn bao gồm rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động. Tập đoàn thiết lập chính sách, thủ tục QTRR chung và chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm soát các công ty trong tập đoàn thực hiện. Các công ty con có trách nhiệm báo cáo cho tập đoàn thông quan bộ phận QTRR.

Nguyên tắc chung trong QTRR giao dịch CKPS của tổ chức tài chính

Về vai trò và trách nhiệm của Hội đồng quản trị (HĐQT) và giám đốc cấp cao

HĐQT và ban giám đốc điều hành phải là những người chịu trách nhiệm cao nhất đối với mọi quyết định liên quan tới hoạt động CKPS và phải kiểm soát chặt chẽ đối với các hoạt động này. Do vậy, HĐQT phải có một số vai trò và nghĩa vụ cơ bản như: (i) phê duyệt chính sách đối với hoạt động giao dịch CKPS; (ii) bảo đảm các thành viên HĐQT có kiến thức đầy đủ để hiểu rủi ro liên quan đến việc tham gia/sử dụng giao dịch CKPS; (iii) phê duyệt khẩu vị rủi ro, mức độ chấp nhận rủi ro đối với các giao dịch CKPS; (iv) thường xuyên yêu cầu báo cáo về rủi ro liên quan đến giao dịch CKPS; (v) bảo đảm thực thi hiệu quả hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ liên quan đến giao dịch CKPS. Ban giám đốc và các giám đốc cấp cao cũng phải có một số vai trò và nghĩa vụ cơ bản như: (i) xác định khẩu vị rủi ro, mức độ chấp nhận rủi ro đối với các giao dịch CKPS tham gia; (ii) phê duyệt, giới hạn hoặc ngăn chặn sử dụng các CKPS theo các chính sách, thủ tục hiện hành, và bảo đảm các mức giới hạn luôn được tuân thủ; (iii) bảo đảm có khả năng xác thực được giá một cách độc lập, nhất là đối với CKPS trên thị trường OTC; nếu không thực hiện được thì phải sử dụng dịch vụ của các tổ chức chuyên nghiệp khác; (iv) bảo đảm có đầy đủ thông tin về giao dịch CKPS và rủi ro liên quan; (v) bảo đảm tuân thủ luật pháp và quy định về CKPS; (vi) hiểu rõ các phương pháp và thước đo đánh giá rủi ro; (vii) bảo đảm tổ chức có đủ vốn phù hợp với các rủi ro liên quan đến CKPS; (viii) bảo đảm có nhân viên đủ trình độ và độc lập với thù lao dựa trên động lực lợi nhuận dài hạn.

Bảo đảm tính độc lập, đủ năng lực và thù lao

Các hoạt động về CKPS phải được thực hiện bởi các nhân viên đủ năng lực và độc lập. Phải có chính sách thù lao thỏa đáng đối với các nhân viên này nhằm tránh khả năng tham gia giao dịch rủi ro quá mức.

+ Về tính độc lập: Việc quản lý hoạt động về CKPS bao gồm 3 chức năng tách biệt: bộ phận front office, bộ phận back office, bộ phận middle office. Ngoài ra còn có chức năng QTRR tổng thể đối với tổ chức, trong đó QTRR về CKPS là một phần của chức năng này. Tổ chức tài chính phải bảo đảm các chức năng này là độc lập nhằm ngăn chặn việc giao dịch rủi ro quá mức, nguy cơ gian lận hoặc xung đột lợi ích. Bộ phận back office ít nhất cũng không phải báo cáo với front office hay chịu áp lực từ front office. Bộ phận middle office thường thực hiện kiểm soát giao dịch và QTRR.

+ Về năng lực: các nhân viên được giao quản lý CKPS phải có đủ các kỹ năng cần thiết để thực thi nhiệm vụ. Do vậy, họ cần được đào tạo kỹ và có đủ kinh nghiệm để hiểu các rủi ro liên quan để hiểu rõ các chính sách, thủ tục của tổ chức về các hoạt động về CKPS. Nếu không, tổ chức nên sử dụng các tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp nếu muốn tham gia giao dịch CKPS.

Các nhân viên quản trị rủi ro thực hiện giám sát, kiểm soát hoạt động về CKPS phải có kiến thức cần thiết nhằm đánh giá rủi ro liên quan nhằm ngăn chặn việc tham gia giao dịch rủi ro quá mức, gian lận và biển thủ. 

+ Về thù lao: Cần có chính sách thù lao thỏa đáng nhằm tránh việc thực hiện các hoạt động rủi ro quá mức để tìm kiếm lợi nhuận cao. Bên cạnh đó, thù lao cho bộ phận back office và middle office không nên gắn với lợi nhuận do bộ phận front office mang lại. Chính sách thù lao cũng cần dựa trên cơ sở lợi nhuận dài hạn. Một trong những bài học về QTRR từ vụ Amaranth2 đó là cũng cần nhân viên bộ phận kiểm soát rủi ro ngồi cùng nơi với các nhân viên giao dịch để bảo đảm khả năng giám sát chặt và thường xuyên. Đặc biệt, bộ phận kiểm soát rủi ro cần được trả lương tương đương với bộ phận giao dịch để bảo đảm nhiệm vụ, vai trò của bộ phận này cũng tương đương như các bộ phận khác. Thưởng cho bộ phận QTRR dựa trên lợi nhuận của công ty cũng khiến họ chần chừ trong việc yêu cầu giảm vị thế giao dịch quá mức.

Các nguyên tắc liên quan đến sử dụng CKPS

Các tổ chức tài chính cần thiết lập những hạn mức cụ thể và rõ ràng về các hoạt động CKPS và bảo đảm tính tuân thủ đối với các hạn mức đó.

+ Về hạn mức: Các loại CKPS mà tổ chức dự định tham gia cần được HĐQT hoặc một ủy ban độc lập chấp thuận trước. HĐQT và ban giám đốc cũng phải thiết lập hạn mức hoặc nghiêm cấm việc sử dụng các CKPS nhất định nếu họ thấy cần thiết. Hạn mức về sử dụng CKPS là một phần của hạn mức chung của tổ chức và gắn với chính sách đầu tư, cần được đa dạng hóa. Theo đó, các hạn mức có thể áp dụng cho các giao dịch dựa theo loại sản phẩm tài chính hoặc thị trường. Tương tự như vậy, các hạn mức cũng cần tính đến rủi ro đối tác (counterparties risk). Các hạn mức có thể được thiết lập thành 2 cấp độ:

- Hạn mức mềm: theo đó quy mô vị thế sẽ cần được phân tích, đánh giá.

- Hạn mức cứng: theo đó quy mô vị thế nhất định cần phải được tất toán để bảo đảm tuân thủ hạn mức. 

Quy mô vị thế của tổ chức phải nằm trong khoảng hạn mức này. Khi vượt hạn mức thì phải được phân tích, đánh giá kỹ và được xử lý theo cùng một phương thức cho dù đó là trạng thái lãi hay lỗ. Khi vượt quá hạn mức, bộ phận middle office cần can thiệp nhằm ngăn chặn việc gia tăng thêm rủi ro và thông báo ngay cho ban giám đốc để báo cáo HĐQT. Một trong những bài học từ vụ Amaranth Advisors là cần thiết lập hạn mức nhằm bảo đảm rằng nếu một tổ chức giảm quy mô vị thế sẽ có đủ các nhà giao dịch khác tham gia hấp thụ áp lực bán đó để hạn chế giá biến động quá lớn. Ngoài ra, việc quy định hạn mức vị thế từ phía cơ quan quản lý cũng giúp hạn chế khả năng thao túng giá.

+ Về thẩm quyền sử dụng CKPS: Trước khi tham gia hoạt động CKPS, HĐQT và ban giám đốc phải bảo đảm thiết lập cơ chế kiểm soát nội bộ phù hợp và thực hiện chấp thuận những thủ tục cần thiết. Xác định thẩm quyền trước khi giao dịch CKPS cần tính đến các yếu tố sau:

(i) Mục đích của việc sử dụng CKPS.

(ii) Các rủi ro tiềm tàng đối với các CKPS đó.

(iii) Các phương pháp mà tổ chức dự định sử dụng để đo lường, quản lý, kiểm soát các rủi ro liên quan đến các CKPS đó.

(iv) Các chuẩn mực kế toán áp dụng và cơ chế thuế.

(v) Pháp luật và quy định về CKPS.

(vi) Bảo đảm đủ vốn.

(vii) Cơ sở hạ tầng và nguồn lực cần cho giao dịch CKPS.

+ Về giới hạn hoặc nghiêm cấm sử dụng CKPS:

Trong điều kiện TTCKPS thường xuyên thay đổi, HĐQT và ban giám đốc phải thường xuyên bảo đảm sự phù hợp trong giao dịch các loại CKPS. Do vậy, cần thiết lập hạn mức hoặc nghiêm cấm sử dụng một số loại CKPS nhất định (các CKPS phức tạp và mới) trong các tình huống do: (i) không thể đo lường một cách đáng tin cậy những rủi ro tiềm tàng; (ii) khó thực hiện đóng vị thế do sự phức tạp hoặc quy mô lớn (nhất là các giao dịch CKPS OTC); (iii) do không thể bảo đảm đánh giá độc lập về giá CKPS; (iv) mức độ tín nhiệm của đối tác không đáp ứng; (v) sự phức tạp của sản phẩm CKPS đó và không hiểu rõ các rủi ro liên quan. 

Về đánh giá rủi ro CKPS:

Các tổ chức tài chính cần xác định và đánh giá các rủi ro cụ thể đối với các hoạt động về CKPS mà họ tham gia. Các CKPS cũng có cùng những rủi ro như các công cụ tài chính truyền thống khác. Tuy nhiên, trong trường hợp thiếu sự rõ ràng (chủ yếu đối với các CKPS mới) và tác động của đòn bẩy khiến các rủi ro liên quan đến CKPS có thể bị khuếch đại rất khác nhau, do vậy cần sự đánh giá chính xác và kiểm soát thường xuyên. Các rủi ro thông thường đó là rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động. Đối với HĐTL chỉ số cổ phiếu, các rủi ro cụ thể liên quan bao gồm:

(i) Rủi ro thị trường: là những thua lỗ do sự biến động không như kỳ vọng của chỉ số cơ sở.

(ii) Rủi ro đòn bẩy: do hiệu ứng đòn bẩy của CKPS nên rủi ro thị trường có thể bị khuếch đại. Một sự thay đổi giá trị của tài sản cơ sở dù nhỏ có thể gây ra thay đổi lớn về giá trị của CKPS. Tác động này sẽ tăng lên nếu dòng tiền từ CKPS dựa trên số nhân giá trị của tài sản cơ sở. Do vậy, giá của CKPS sẽ biến động rất lớn. Ngoài ra, thua lỗ có thể bị khuếch đại do quy mô giá trị danh nghĩa nhìn chung lớn hơn rất nhiều so với giá trị ký quỹ. Mức thua lỗ có thể lớn hơn giá trị ký quỹ (quy mô vốn bỏ ra ban đầu).

(iii) Rủi ro bị gọi bổ sung ký quỹ: các nhà đầu tư có thể phải bổ sung ký quỹ trong trường hợp giá trị ký quỹ thấp hơn mức quy định khi giá sụt giảm hoặc do thay đổi quy định ký quỹ. Nếu nhà đầu tư không ký quỹ bổ sung đủ theo yêu cầu, vị thế HĐTL có thể bị đóng.

(iv) Rủi ro quản lý: trong các trường hợp giao dịch bất thường, có thể cơ quan thẩm quyền chỉ định yêu cầu phải bổ sung ký quỹ hoặc tất toán vị thế.

(v) Rủi ro thanh khoản: những thua lỗ do thị trường mất thanh khoản.

(vi) Rủi ro tín dụng: thua lỗ do các tổ chức môi giới hoặc TCKDCK bị phá sản. Mặc dù nhìn chung tài khoản ký quỹ đã được tách bạch theo quy định nhưng vẫn cần thực hiện việc đóng các vị thế hoặc chuyển giao vị thế.

(vii) Rủi ro hệ thống hạ tầng: những thua lỗ do hệ thống công nghệ bị trục trặc.

Về phân tích kịch bản và kiểm định khả năng chịu đựng (stress test):

Các tổ chức tài chính cần định kỳ thực hiện phân tích kịch bản và kiểm định khả năng chịu đựng nhằm đánh giá tác động tiềm tàng của việc sử dụng CKPS đối với tình hình tài chính. Các kịch bản giả định cần bao gồm các sự kiện quá khứ và các sự kiện giả định với các mức độ nghiêm trọng khác nhau. Phân tích kịch bản sẽ giúp tổ chức tài chính xác định tổng thể một cách đầy đủ các rủi ro liên quan đến hoạt động về CKPS. Việc kiểm định khả năng chịu đựng cần tính tới các yếu tố về tài sản cơ sở và khả năng biến động do các tác động của lãi suất, tỷ giá…, hiệu ứng đòn bẩy, các thời kỳ biến động mạnh hoặc đình trệ của thị trường…

Ngoài ra, bộ phận front office cần đánh giá CKPS dựa trên các giả định khác nhau, tiến hành phân tích kịch bản và kiểm định khả năng chịu đựng trước khi mở vị thế giao dịch. Các mô hình đánh giá do bộ phận back office và middle office sử dụng cần có tính bảo thủ hơn trong việc ghi nhận lợi nhuận đối với các vị thế CKPS. Các báo cáo định kỳ dựa trên kiểm định cần thể hiện rõ mức lãi/lỗ do những biến động cụ thể của thị trường. Mức lãi/lỗ dự báo cần được so sánh với mức lãi/lỗ thực tế để bảo đảm tính tin cậy của các mô hình đang sử dụng.

Ngoài các nguyên tắc trên, đối với các CKPS phức tạp, các tổ chức tài chính cần thực hiện các nguyên tắc về tính đáng tin cậy của đối tác (trong giao dịch CKPS), nguyên tắc về tài sản cầm cố, thế chấp cho giao dịch CKPS…

Như vậy có thể thấy, CKPS là một công cụ tài chính bậc cao và cũng khá phức tạp, do đó các tổ chức tham gia cần phải hiểu rõ các tính chất, rủi ro của công cụ này, đồng thời phải xây dựng một hệ thống QTRR tốt nhằm bảo đảm khả năng tham gia, sử dụng CKPS một cách hiệu quả.

Ths. Đặng Tài An Trang – Phó Chánh phòng UBCKNN


Các bài viết khác: