Skip to content
ssc.gov.vn
Chuyên đề: Chứng quyền (Covered Warrant)
Covered Warrant - Đa dạng hóa sản phẩm để thu hút đầu tư
202
15/08/2015

Qua 15 năm hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã và đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, trở thành một kênh huy động vốn hữu ích cho nền kinh tế. Tính đến tháng 7/2015, đã có gần 700 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường tập trung, hơn 80 công ty chứng khoán (CtyCK) tích cực tham gia thị trường, quy mô thị trường cổ phiếu đã đạt khoảng 32% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đáp ứng cho 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Thị trường được dự báo là sẽ tiếp tục khởi sắc khi nhiều “nút thắt” đã và sẽ sớm được khai thông như: nới lỏng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN), rút ngắn thời gian thanh toán cổ phiếu, cho phép đa dạng hóa sản phẩm, phát triển TTCK phái sinh… Trong đó, đứng trên góc độ nhà đầu tư, phát triển sản phẩm mới nhằm đa dạng hóa sản phẩm là một tín hiệu vui khi mà suốt một thời gian dài TTCK chỉ có 3 sản phẩm truyền thống là cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ. Từ ngày 01/7/2015, việc xây dựng và vận hành thị trường các chứng khoán phái sinh (CKPS) đã có cơ sở pháp lý để thực hiện là Nghị định 42/2015/NĐ-CP quy định về CKPS và TTCK phái sinh có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015. Từ ngày 01/9/2015, các CtyCK được phép phát hành các chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant - CW) để niêm yết và giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) theo quy định tại Nghị định 60/2015/NĐ-CP (Nghị định 60) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật Chứng khoán. Theo đó, CW được coi là sản phẩm “bước đệm” trước khi chính thức vận hành TTCK phái sinh vào năm 2016. Đây là sản phẩm mà SGDCK Tp. HCM rất tâm huyết nghiên cứu và đôn đốc triển khai. Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về sản phẩm này, bài viết sẽ tập trung giới thiệu một số nét về: CW là gì? Thị trường CW trên thế giới đã phát triển như thế nào? Và những yêu cầu gì đặt ra cho việc xây dựng và phát triển CW tại Việt Nam?

Chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant - CW) là gì?

Khái niệm “chứng quyền” theo Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 (Khoản 6, Điều 6) - tại nhiều thị trường trên thế giới gọi là “equity warrant- chứng quyền cổ phiếu” - được hiểu là loại chứng khoán được phát hành bởi công ty niêm yết (CtyNY) cùng với phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu nó được phép mua một lượng cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định. Trong khi đó, CW còn được gọi là “derivative warrant” được xếp loại là một sản phẩm cơ cấu (structured product) hay công cụ đầu tư phái sinh (derivative investment instrument). CW là loại chứng khoán có tài sản đảm bảo do CtyCK phát hành, cho phép người sở hữu được quyền mua (chứng quyền mua) hoặc được quyền bán (chứng quyền bán) chứng khoán cơ sơ (không phải nghĩa vụ bắt buộc) cho tổ chức phát hành chứng quyền đó theo một mức giá đã được xác định trước, tại hoặc trước một thời điểm đã được ấn định, hoặc nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện. Do đó, CW có những điểm khác biệt căn bản với chứng quyền cổ phiếu (equity warrant) mà chúng ta vẫn biết từ trước đến nay như ở Bảng 1.

CW cho thấy có nhiều đặc điểm giống với một hợp đồng quyền chọn, giá CW biến động phụ thuộc vào giá chứng khoán cơ sở, được định giá theo giá chứng khoán cơ sở nhưng CW lại được giao dịch trên thị trường giao dịch (cash market) giống như các chứng khoán thông thường. CW được ví như một công cụ đầu tư “lưỡng tính”, được sử dụng nhằm mục đích phòng vệ rủi ro biến động giá chứng khoán cơ sở. Trong bối cảnh TTCK Việt Nam có nhiều biến động, CW ra đời sẽ đáp ứng nhu cầu phòng vệ rủi ro của nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ, nhà đầu tư cá nhân.

 

Thị trường giao dịch CW trên thế giới

Trên thế giới, CW được giao dịch trên nhiều SGDCK với các tên gọi khác nhau: tại Đức được gọi là Covered Warrant; tại Anh là Securitised Derivatives; tại Thái Lan và Hồng Kông là Derivatives Warrant; tại Singapore là Structured Warrant; và tại Hàn Quốc là Equity-Linked Warrant… Dù tên gọi không giống nhau nhưng tựu chung lại trong 15 năm qua, thị trường CW thế giới đã phát triển rất nhanh, được đánh giá là một trong những thị trường tài chính phái sinh năng động nhất dành cho các nhà đầu tư cá nhân. Các CW lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1990 tại Đức và Hồng Kông với những đặc điểm cơ bản giống với một hợp đồng quyền chọn nhưng không phải ký quỹ giao dịch - một điểm nổi trội mà thị trường quyền chọn không có được. Các CW còn có lợi thế về quy mô giao dịch tương đối nhỏ, cho phép sử dụng đòn bẩy - chi phí mua một CW là thấp hơn nhiều so với chi phí (giá mua) chứng khoán cơ sở và đặc tính khoản lỗ được giới hạn (limited loss) bằng khoản phí mua CW thích hợp với các nhà đầu tư cá nhân. Vì lẽ đó, CW được phát triển mạnh ở cả thị trường châu Á và châu Âu. Các CW được phát triển mạnh tại Đức, Thụy Sỹ và Hồng Kông từ năm 2000 và đặc biệt vào năm 2006, số lượng CW được phát hành và niêm yết trên SGDCK vượt con số 161 nghìn CW, tương đương với giá trị giao dịch (GTGD) là 761,8 tỷ USD trên toàn thế giới1. Tính đến năm 2014, theo số liệu thống kê của Liên đoàn các SGDCK Thế giới (WFE), GTGD các CW đạt 627 tỷ USD, tăng 3% so với năm 2013. Trong đó, khu vực châu Á - Thái Bình Dương chiếm tới 76% tổng doanh số giao dịch CW toàn cầu, nổi bật là thị trường Hồng Kông và Hàn Quốc (xem Bảng 2 và Bảng 3).

SGDCK Hồng Kông hiện là SGDCK đứng đầu thế giới về doanh số giao dịch CW. Năm 2013, GTGD CW của SGDCK Hồng Kông đạt 393,5 tỷ USD, chiếm 62% doanh số giao dịch CW toàn cầu2. Từ khi niêm yết và giao dịch CW đầu tiên (năm 1989) đến nay, thị trường CW tại Hồng Kông đã tăng trưởng chóng mặt. Đặc biệt là giai đoạn 2003 - 2007, GTGD CW trung bình một ngày đạt 3,5 tỷ đôla Hồng Kông, chiếm tới 20% tổng GTGD trung bình/ngày của toàn thị trường cổ phiếu3. Các thị trường CW châu Á khác cũng tăng trưởng rất nhanh như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Australia, Đài Loan và Malaysia… nhưng với sự tham gia tích cực của các tổ chức đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đóng vai trò là nhà phát hành CW, với hệ thống chính sách khá thông thoáng và chiến lược mở rộng thị trường CW sang khu vực Đại lục (Trung Quốc) từ năm 2005, đến nay Hồng Kông vẫn giữ vững vị thế là thị trường CW đứng đầu thế giới (xem Đồ thị 1).

Những yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam

Lịch sử phát triển thị trường CW cho thấy, CW thực sự là sản phẩm tài chính phái sinh thích hợp cho các nhà đầu tư cá nhân. Vì vậy, trong bối cảnh TTCK Việt Nam với khoảng 1,5 triệu tài khoản giao dịch mà phần lớn là tài khoản giao dịch của nhà đầu tư cá nhân thì việc phát triển CW được mong đợi là sẽ thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư cá nhân. Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận là đa phần những nhà đầu tư này còn hạn chế  trong hiểu biết chuyên sâu về thị trường và sản phẩm dẫn đến khả năng chịu đựng rủi ro là có hạn. Do đó, quá trình phát triển CW tại Việt Nam cần đặt ra một số điều kiện như sau:

Đảm bảo hành lang pháp lý đầy đủ

Việc đảm bảo hành lang pháp lý đầy đủ là điều kiện vô cùng cần thiết nhằm đảm bảo quá trình phát hành, niêm yết và giao dịch các CW được quản lý và giám sát chặt chẽ bởi cơ quan quản lý thị trường. Điều này mang lại một sự đảm bảo cho nhà đầu tư. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nhà quản lý thị trường thường đặt ra những điều kiện nhất định đối với một tổ chức tài chính muốn trở thành nhà phát hành các CW như: điều kiện về vốn, điều kiện tài chính, xếp hạng tín nhiệm hay đặt ra yêu cầu phải có một số nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nhất định (như tự doanh hay môi giới…). Theo đó, cơ quan quản lý thị trường (Ủy ban Chứng khoán - UBCK) sẽ là đơn vị cấp phép cho các nhà phát hành và giám sát việc duy trì, tuân thủ các điều kiện được cấp phép. Với đặc thù giao dịch CW là tổ chức phát hành (như CtyCK) mua chứng khoán cơ sở (như cổ phiếu) sau đó dựa trên các chứng khoán cơ sở này để phát hành các CW thì cơ quan quản lý thị trường cần giám sát và đánh giá thường xuyên năng lực tài chính của các CtyCK để đảm bảo các CtyCK không bị thua lỗ hay phá sản dẫn đến mất khả năng thanh toán khi các CW đến hạn.

Có thể thấy, Nghị định 60 đã đặt ra quy định đối với CtyCK muốn phát hành CW là phải có vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu đạt tối thiểu 1.000 tỷ đồng trở lên, cao hơn rất nhiều so với điều kiện cấp phép các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán hiện nay (300 tỷ đồng đối với 4 nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán). Xét theo tiêu chí này thì tính đến hết quý I/2015, TTCK Việt Nam chỉ có khoảng gần 10 CtyCK đủ điều kiện trở thành nhà phát hành CW, con số này thậm chí sẽ thấp hơn khi các CtyCK còn phải đáp ứng thêm các điều kiện khác về an toàn tài chính và xếp hạng tín nhiệm. Bên cạnh đó, Nghị định 60 mới chỉ có những quy định khung mang tính chất nền tảng, chưa có những quy định hay hướng dẫn chi tiết để triển khai. Giống quỹ hoán đổi danh mục (ETF), việc triển khai CW sẽ cần một Thông tư hướng dẫn riêng về CW của Bộ Tài chính, trên cơ sở đó SGDCK và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam sẽ xây dựng các quy chế để chuẩn bị đầy đủ hành lang pháp lý cho CW sớm triển khai trong thực tiễn.

Yêu cầu quản trị rủi ro

Quản trị rủi ro (QTRR) là nội dung quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững của TTCK. Đối với khía cạnh CtyCK, QTRR đảm bảo an toàn tài chính và đạt được hiệu quả kinh doanh. Với hầu hết các TTCK phát triển CW đều đặt ra yêu cầu xây dựng các nguyên tắc về QTRR và thiết lập hệ thống QTRR đối với tổ chức phát hành. Tại Malaysia, trong Sổ tay hướng dẫn năng lực của tổ chức phát hành CW, UBCK Malaysia quy định: Tổ chức phát hành CW phải có cơ sở vật chất, kỹ thuật phù hợp, có quy trình và phương pháp đánh giá, hệ thống kiểm soát nội bộ, yêu cầu nhân sự đủ năng lực và trình độ chuyên môn… Ngoài ra, hệ thống giao dịch và thanh toán nói chung và cho CW nói riêng cũng cần đảm bảo yêu cầu QTRR trong hoạt động giao dịch và thanh toán, đảm bảo an toàn, ổn định và hiệu quả.

Phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường

Kinh nghiệm khi đưa một sản phẩm mới vào giao dịch, để đảm bảo thị trường có đủ thanh khoản và không phát sinh rủi ro cho nhà đầu tư nắm giữ các CW mà không thể giao dịch, chuyển nhượng được, thị trường cần đến vai trò của nhà tạo lập thị trường hay còn gọi là các nhà cung cấp thanh khoản (LP- Liquidity Provider). Thị trường CW thế giới cho phép nhà phát hành có thể đóng luôn vai trò là LP cho các CW mà chính mình phát hành. Trên thị trường này, nhà tạo lập thị trường được phép bán khống (short-sale). Tuy nhiên, lợi ích từ việc được yết giá hai chiều mua bán của các nhà tạo lập thị trường có thể dẫn tới hành vi thao túng giá CW và vì vậy, trong việc chọn lựa thành viên giao dịch làm nhà tạo lập thị trường, các cơ quan quản lý thị trường, SGDCK cần đặt ra các điều kiện về tài chính, hệ thống chặt chẽ và phải quan tâm đến uy tín và kinh nghiệm của các CtyCK.

Tuyên truyền, phổ biến và đào tạo nhà đầu tư

CW là sản phẩm mới có sử dụng đòn bẩy đi kèm với đó là tỷ lệ rủi ro cao hơn nhiều lần so với kinh doanh cổ phiếu hay trái phiếu nên đòi hỏi nhà đầu tư tham gia thị trường CW phải có sự hiểu biết nhất định về sản phẩm và ý thức được mức độ rủi ro. Tuyên truyền, phổ biến, đào tạo cho công chúng đầu tư ở bất cứ thị trường nào cũng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo thành công khi triển khai một sản phẩm mới ra thị trường và luôn phải đi trước một bước. Đối với Việt Nam, xu hướng giao dịch theo trào lưu vẫn còn khá phổ biến và nhà đầu tư cá nhân vẫn thường là những người gánh chịu rủi ro, thua lỗ. Vì vậy, phổ biến kiến thức, đào tạo cho nhà đầu tư là vấn đề nòng cốt và mang tính lâu dài bởi thị trường cần những nhà đầu tư thông thái và am hiểu. Hoạt động này cần triển khai trên nhiều phương diện từ các chương trình đào tạo, tập huấn kiến thức cơ bản, tới tọa đàm, hội thảo để trao đổi ý kiến một cách cởi mở giữa nhà đầu tư, thành viên thị trường và cơ quan quản lý. Tuyên truyền và đào tạo còn gắn với nội dung phổ biến văn bản pháp luật có liên quan xuyên suốt quá trình từ xây dựng dự thảo tới hoàn thiện và ban hành. Quá trình này gắn kết với nhau cho phép nhà đầu tư nắm bắt được chủ trương của cơ quan quản lý và ngược lại để phản hồi vào trong hệ thống văn bản pháp quy, đảm bảo văn bản pháp quy khi được ban hành sẽ đi vào đời sống.

Các bài viết khác: