Skip to content
ssc.gov.vn
Thị trường sơ cấp trái phiếu doanh nghiệp
Đẩy mạnh quản lý để thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển minh bạch
263
15/09/2020

Trong bối cảnh nguồn vốn cho vay trung và dài hạn của ngân hàng đang dần bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp có xu hướng chuyển huy động vốn qua kênh phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) để phát triển sản xuất kinh doanh, giảm dần sự phụ thuộc vào kênh tín dụng ngân hàng. Kênh phát hành TPDN giúp hỗ trợ các ngân hàng thương mại (NHTM) và các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực huy động vốn dài hạn nhằm đáp ứng các chỉ tiêu an toàn vốn theo quy định; giảm bớt áp lực huy động vốn cho hệ thống NHTM; định hướng được các khoản đầu tư trung, dài hạn thay vì gửi tiền tiết kiệm ngắn hạn. Tuy nhiên, để giảm thiểu những rủi ro cho các nhà đầu tư tham gia trên thị trường TPDN cũng như để thị trường này phát triển ổn định trở thành kênh huy động vốn hữu hiệu cho các doanh nghiệp, cần thiết phải xây dựng một hành lang pháp lý đầy đủ cho thị trường này.

Phát hành TPDN trong bối cảnh hiện nay

Với lãi suất cao, TPDN có sức hấp dẫn mạnh đang hút lượng tiền đáng kể từ các kênh đầu tư khác, trong đó trực tiếp nhất là kênh tiền gửi tiết kiệm, bởi so với lãi suất tiền gửi, lợi tức TPDN đang cao hơn trung bình 0,8% - 1,7%, ở nhóm TPDN bất động sản có khi chênh lệch lên đến 2% - 4%/năm - là mức rất hấp dẫn. Đặc biệt, trải qua những đợt bất ổn của nền kinh tế trước tác động của đại dịch COVID-19, phân bổ tài sản vào các kênh có tính phòng thủ như vàng hay trái phiếu đang được đại đa số người dân ưu tiên.

Số liệu thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) cho thấy hoạt động phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp tăng theo các năm: năm 2017 giá trị phát hành TPDN chỉ 115.425 tỷ đồng, thì năm 2018 đã tăng lên 237.196 và năm 2019 giá trị phát hành TPDN đạt 296.713 tỷ đồng. Đáng chú ý, trong năm 2020, mặc dù kinh tế trong và ngoài nước gặp khó khăn do dịch bệnh nhưng hoạt động phát hành TPDN của các doanh nghiệp vẫn tiếp tục tăng mạnh, đạt 156.000 tỷ đồng, tăng 33% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực bất động sản đã ồ ạt phát hành trái phiếu với tổng giá trị phát hành 45.590 tỷ đồng, tương đương khoảng 2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 29,16%, đứng thứ hai sau trái phiếu của các ngân hàng.

Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường TPDN sơ cấp đã góp phần đưa quy mô thị trường TPDN tăng trưởng theo các năm. Tính đến cuối năm 2017 đạt 6,29% GDP, cuối năm 2018 đạt 9,01% GDP (tổng sản phẩm quốc nội), cuối năm 2019 đạt 10,38% GDP (tương đương khoảng 640.000 tỷ đồng, gấp 6 lần năm 2011.

Theo các chuyên gia phân tích, có nhiều lý do giúp hoạt động phát hành TPDN trong thời gian gần đây tăng mạnh nhưng lý do quan trọng nhất là từ khi Nghị định 163/2018/NĐ-CP1 ngày 4/12/2018 về phát hành TPDN (Nghị định 163) có hiệu lực thi hành ngày 01/2/2019 quy định về điều kiện phát hành, hồ sơ phát hành, thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận phương án phát hành TPDN riêng lẻ đã được đổi mới theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận kênh phát hành trái phiếu để huy động vốn, góp phần thúc đẩy hoạt động phát hành TPDN từ các doanh nghiệp càng sôi động hơn.

 Bên cạnh đó, tình hình kinh tế vĩ mô ổn định, nhu cầu huy động vốn để phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên, khiến cho thị trường TPDN riêng lẻ năm 2019 cho đến nay có sự tăng trưởng tích cực cả về số lượng doanh nghiệp phát hành và giá trị phát hành.

Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp bất động sản, việc tìm kiếm nguồn vốn vay từ ngân hàng đang gặp nhiều khó khăn do những chính sách siết chặt tín dụng vào lĩnh vực này. Do vậy, việc phát hành TPDN được coi là một giải pháp về vốn cho các doanh nghiệp bất động sản.

Mặt khác, các ngân hàng có xu hướng chọn giải pháp phát hành trái phiếu để có nguồn vốn cho vay trung và dài hạn; cũng như nhiều NHTM tăng cường phát hành trái phiếu nhằm cải thiện chỉ số CAR (tỷ lệ an toàn vốn), chuẩn bị cho lộ trình đáp ứng tiêu chuẩn Basel II.

Quy định phát hành TPDN giúp thị trường TPDN phát triển minh bạch hơn

Việc doanh nghiệp khi phát hành TPDN không cần phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe như trên TTCK, không cần tài sản đảm bảo và doanh nghiệp có thể sử dụng số tiền thu được từ việc phát hành trái phiếu mà không cần sự giám sát của hệ thống ngân hàng là một trong những thuận lợi để các doanh nghiệp phát hành trái phiếu huy động vốn một cách dễ dàng. Tuy nhiên, đây cũng là kẽ hở để các doanh nghiệp lợi dụng vào “niềm tin” quá dễ dàng của các nhà đầu tư khi đổ vốn vào những doanh nghiệp phát hành mà mình chưa hề tìm hiểu kỹ thông tin, nhất là các nhà đầu tư nhỏ lẻ để trục lợi. Thực tế hiện nay đa phần nhà đầu tư trên thị trường mua TPDN vì tham lãi suất cao, nhưng thậm chí không hề biết phân tích báo cáo tài chính, chưa từng nghe tên về doanh nghiệp phát hành, chỉ mua trái phiếu do tin tưởng vào tổ chức phát hành, các ngân hàng, CTCK là đơn vị phân phối, không hề chịu ràng buộc trách nhiệm nào nếu rủi ro xảy ra.

Theo các chuyên gia phân tích, ở các nước trên thế giới, xếp hạng tín nhiệm là một trong những điều kiện để doanh nghiệp phát hành trái phiếu và cũng là căn cứ để nhà đầu tư lựa chọn. Báo cáo tài chính của doanh nghiệp phát hành cũng phải theo chuẩn quốc tế. Đây là yêu cầu để nhà đầu tư tham khảo, đưa ra quyết định. Tuy nhiên, những quy định này chưa bắt buộc ở Việt Nam. Mặt khác, dịch vụ xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam còn chưa phát triển, chưa có sự hoạt động của các doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm (Nghị định số 88/2014/NĐ-CP quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm đã được Chính phủ ban hành nhưng đến nay mới chỉ có một doanh nghiệp định mức tín nhiệm được thành lập nhưng cũng chưa hoạt động trên thực tế).

Nghị định 163 mặc dù đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp huy động vốn trái phiếu, nhưng do Nghị định này không khống chế nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ tham gia thị trường trái phiếu khiến số lượng nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường sơ cấp tăng đột biến, nếu như năm 2019 nhà đầu tư cá nhân chỉ nắm giữ 8,8% tổng khối lượng phát hành thì trong 6 tháng đầu năm nay đã nắm giữ khoảng 27%. Sự gia tăng của nhà đầu tư cá nhân gồm cả nhà đầu tư cá nhân nhỏ, lẻ khi chưa tiếp cận đầy đủ thông tin về mục đích phát hành, tình hình tài chính, khả năng trả nợ, đồng thời lại thiếu khả năng phân tích, đánh giá rủi ro cho các nhà đầu tư này. Ngoài ra, do Nghị định 163 cũng không khống chế khối lượng phát hành nên đã có hiện tượng doanh nghiệp tập trung phát hành cho nhà đầu tư cá nhân thông qua việc chia nhỏ làm nhiều đợt, gồm nhiều mã, để đáp ứng quy định của Luật Chứng khoán về phát hành riêng lẻ (số lượng nhà đầu tư cá nhân dưới 100 người, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp), trong khi thực chất gần như phát hành ra công chúng (có điều kiện phát hành cao hơn). Đáng chú ý, có hiện tượng doanh nghiệp phát hành trái phiếu thành nhiều đợt không gắn với nhu cầu huy động vốn cho sản xuất - kinh doanh; doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu thấp phát hành TPDN với khối lượng lớn, tiềm ẩn rủi ro cho cả doanh nghiệp phát hành và nhà đầu tư mua trái phiếu.

Theo số liệu thống kê của HNX, riêng trong năm 2019, đã có tới 28/217 doanh nghiệp phát hành khối lượng trái phiếu vượt quá 3 lần vốn chủ sở hữu, trong đó 11 doanh nghiệp gấp trên 50 lần vốn chủ sở hữu, 6 doanh nghiệp vượt 100 lần vốn chủ sở hữu. Trong đó có nhóm doanh nghiệp phát hành trái phiếu với khối lượng vượt gấp nhiều lần so với vốn tự có chủ yếu tập trung vào lĩnh vực bất động sản. Và trong số doanh nghiệp phát hành trái phiếu với khối lượng lớn, không ít doanh nghiệp lờ đi việc công bố cụ thể mục đích sử dụng vốn và phương án bố trí nguồn thanh toán gốc, lãi trái phiếu. Đây là điều rất đáng quan ngại bởi trường hợp nếu doanh nghiệp phát hành không thực hiện được các cam kết đã đề ra sẽ gây ảnh hưởng lớn cho các nhà đầu tư, gây bất ổn cho thị trường tài chính và xã hội.

Trước sự lộn xộn trên thị trường TPDN sơ cấp, Bộ Tài chính đã nhiều lần đưa ra cảnh báo về những rủi ro tiềm ẩn đối với các doanh nghiệp phát hành TPDN trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp bất động sản gia tăng huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu. Bên cạnh đó, nhà đầu tư cá nhân tiếp tục xu hướng tăng mua TPDN. Cuối cùng là CTCK, ngân hàng thương mại đẩy mạnh việc phân phối TPDN cho nhà đầu tư cá nhân.

Với lần cảnh báo đưa ra trong tháng 7 vừa qua, Bộ Tài chính lưu ý doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải tính toán cụ thể dòng tiền để xây dựng phương án phát hành trái phiếu khả thi, đảm bảo khả năng trả nợ; không vì mục tiêu bán cho nhà đầu tư cá nhân mà chia nhỏ thành nhiều đợt phát hành với nhiều mã trái phiếu; có biện pháp để thực hiện đầy đủ, đúng hạn các cam kết với nhà đầu tư, bao gồm cam kết về mua lại trái phiếu trước hạn. Với tổ chức phân phối trái phiếu, Bộ Tài chính cảnh báo không chào mời phân phối trái phiếu bằng mọi giá cho nhà đầu tư; có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho nhà đầu tư về tình hình tài chính của doanh nghiệp phát hành, tài sản đảm bảo của trái phiếu, đặc điểm của trái phiếu, quyền lợi, nghĩa vụ của chủ sở hữu trái phiếu; nghĩa vụ của doanh nghiệp phát hành, nghĩa vụ của tổ chức phân phối đối với trái phiếu. Có biện pháp quản lý để tuân thủ đầy đủ, đúng hạn cam kết về mua lại trái phiếu với nhà đầu tư khi phân phối trái phiếu. Với nhà đầu tư, Bộ Tài chính lưu ý cần tiếp cận đầy đủ thông tin, phân tích và đánh giá kỹ các rủi ro có thể gặp phải đối với trái phiếu. Trước khi quyết định đầu tư, cần yêu cầu doanh nghiệp phát hành, tổ chức phân phối cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp phát hành, bao gồm cả tình hình huy động vốn trái phiếu (số lượng đợt phát hành, khối lượng đã phát hành, dư nợ tại thời điểm dự kiến phát hành, việc thanh toán lãi, gốc trái phiếu đã phát hành); tài sản đảm bảo của trái phiếu, đặc điểm của trái phiếu, quyền lợi, nghĩa vụ của chủ sở hữu trái phiếu, các cam kết đối với trái phiếu, nghĩa vụ của doanh nghiệp phát hành, nghĩa vụ của tổ chức phân phối đối với trái phiếu... Khi đã nắm rõ thông tin về trái phiếu, cũng như cân nhắc kỹ lưỡng về các rủi ro có thể gặp phải, nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư cá nhân mới nên mua trái phiếu, không nên mua trái phiếu chỉ vì lãi suất cao, vì có khả năng không thu hồi được khoản tiền đầu tư trái phiếu, bao gồm cả gốc và lãi nếu doanh nghiệp phát hành gặp khó khăn về tài chính.

Về phía cơ quan quản lý thị trường, Bộ Tài chính cam kết sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện kiểm tra, giám sát, trên cơ sở đó xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định của pháp luật trong hoạt động phát hành, đầu tư và cung cấp dịch vụ về trái phiếu doanh nghiệp...

Cùng với đó, nhằm tăng cường khả năng quản lý giám sát, giảm thiểu rủi ro, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư, ngày 09/7/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2020/NĐ-CP (Nghị định 81) sửa đổi, bổ sung Nghị định 163, với nội dung chính là nâng cao tiêu chuẩn, giới hạn về phát hành trái phiếu riêng lẻ nhằm hạn chế hoạt động phát hành quá mức để phân phối cho nhà đầu tư cá nhân; đồng thời, tăng trách nhiệm của các tổ chức tư vấn, đại lý tham gia vào đợt phát hành TPDN, được xem là bước điều chỉnh cần thiết để đảm bảo thị trường TPDN hoạt động chuyên nghiệp, lành mạnh hơn, trong đó, hướng đến mục tiêu tách bạch rõ hoạt động chào bán trái phiếu ra công chúng với hoạt động chào bán riêng lẻ - vốn hướng đến các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ phải đáp ứng các tỷ lệ an toàn tài chính; dư nợ trái phiếu phát hành riêng lẻ không vượt quá 5 lần vốn chủ sở hữu; đợt phát hành sau phải cách đợt phát hành trước tối thiểu 6 tháng... Trái phiếu bị hạn chế giao dịch trong phạm vi dưới 100 nhà đầu tư không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, trong vòng một năm kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành.

Ngoài ra, báo cáo trong hồ sơ chào bán TPDN phải có ý kiến chấp nhận toàn phần của kiểm toán, và các yêu cầu minh bạch về thông tin trong hồ sơ phát hành, như nêu rõ mục đích sử dụng vốn của đợt phát hành TPDN được dùng cho 1 và/hoặc 3 nội dung sau đây: đầu tư dự án, sản xuất kinh doanh và cơ cấu lại các khoản nợ. Không có các trường hợp dùng vốn để mua cổ phiếu của công ty hay nhà đầu tư khác. Nghị định 81 quy định vừa đủ cho doanh nghiệp tiếp tục khơi vốn từ kênh trái phiếu, vừa có những quy định chặt chẽ hơn về số lần phát hành, phạm vi phát hành và nhà đầu tư tham gia thị trường trong nước, lẫn các quy định công bố thông tin định kỳ tháng, quý, năm minh bạch và công khai, góp phần tạo hành lang thông thoáng cho doanh nghiệp, đồng thời bảo vệ, tăng thu hút đầu tư vào thị trường này. Đây cũng là cú huých điều kiện cần đầu tiên cho kỳ vọng phát triển của thị trường trái phiếu Việt Nam.

Mới đây, khi trao đổi với các cơ quan báo chí, đại diện của Bộ Tài chính đã cho biết, sở dĩ đưa ra các quy định trên, mục tiêu của cơ quan quản lý nhà nước hướng đến không phải thắt chặt hay nới lỏng thị trường, mà quan trọng là xây dựng một khung khổ pháp lý để đảm bảo khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường, đảm bảo sự minh bạch của thị trường, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân không chuyên. Đáng chú ý, các điều kiện đối với phát hành TPDN riêng lẻ kể trên sẽ được xem xét nới lỏng hoặc bãi bỏ kể từ ngày 01/1/2021 (thời điểm Luật chứng khoán 2019 có hiệu lực thi hành), vì Luật Chứng khoán 2019 có quy định đối tượng tham gia đợt chào bán trái phiếu riêng lẻ chỉ bao gồm nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Đại diện của Bộ Tài chính cho biết thêm, nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là nhà đầu tư có năng lực tài chính, có trình độ chuyên môn về chứng khoán khi đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ thì phải chấp nhận rủi ro (nếu có) nên không nhất thiết phải khống chế hoạt động này theo Nghị định 81 mà thực hiện theo đúng quy định của Luật Chứng khoán.

Còn trong thời gian nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ vẫn được phép đầu tư vào TPDN riêng lẻ, đại diện của Bộ Tài chính đã đưa khuyến cáo đối với các nhà đầu tư khi đầu tư vào TPDN phải biết rõ trái phiếu do doanh nghiệp nào phát hành và phát hành với mục đích gì; trái phiếu có được đảm bảo hay không được đảm bảo bằng tài sản; các cam kết của doanh nghiệp đối với trái phiếu; kỳ hạn và phương thức trả lãi; tình hình tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phát hành và tổ chức phân phối trái phiếu phải thực hiện nghiêm Nghị định 81, nếu vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán, TTCK và quy định của pháp luật có liên quan.” Do đó, nhà đầu tư cần tìm hiểu kỹ về năng lực của tổ chức trung gian phân phối trong việc thực hiện cam kết mua lại trước hạn trái phiếu và mức phí phải chịu. Trong nhiều trường hợp, mức phí bán lại trái phiếu trước hạn có thể ăn mòn hết phần chênh lệch so với lãi suất tiền gửi ngân hàng.

 

Các bài viết khác: