Skip to content
ssc.gov.vn
Diễn đàn chứng khoán
Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán 2019 - Nhiều điểm mới những vẫn còn một số băn khoăn
262
15/08/2020

Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 (Luật Chứng khoán) được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 8 ngày 26/11/2019 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Việc ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Chứng khoán là cần thiết để có thể triển khai áp dụng Luật Chứng khoán vào thực tiễn một cách có hiệu quả nhất. Mặt khác, các hoạt động trên thị trường chứng khoán (TTCK) ngoài việc được điều chỉnh bởi pháp luật về chứng khoán còn được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật khác có liên quan, đặc biệt là pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư. Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) và Luật Đầu tư (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 9 tháng 5/2020 và cũng có hiệu lực vào ngày 01/01/2021. Do vậy, một số quy định tại các Nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán hiện hành cần được điều chỉnh để đảm bảo tính đồng bộ và tương thích với những thay đổi của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.

Dự thảo Nghị định được xây dựng trên cơ sở các nội dung của Luật Chứng khoán và các Nghị định 58, 60, 86 và 1511.  Nếu như Nghị định 58 và 60 bao gồm 9 Chương, 94 Điều với tổng số trang là 94 trang và 9 biểu mẫu thì dự thảo Nghị định mới giữ nguyên số Chương nhưng lại bao gồm 269 Điều, với 190 trang và 97 biểu mẫu.

Về phạm vi điều chỉnh, dự thảo Nghị định điều chỉnh và hướng dẫn, quy định chi tiết 24 nội dung được ủy quyền tại 22 Điều của Luật Chứng khoán bao gồm các nội dung liên quan đến: chào bán, phát hành chứng khoán và chào mua công khai; tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán; đăng ký, lưu ký chứng khoán, thanh toán bù trừ chứng khoán… Còn các nội dung không được điều chỉnh trong dự thảo Nghị định như: TTCK phái sinh (khoản 4, Điều 10; một phần khoản 1, Điều 42); Chào bán chứng khoán để cổ phần hóa (một phần khoản 6, Điều 15); Kiểm toán (Điều 21), Quản trị công ty - QTCT (Điều 41) và Đăng ký doanh nghiệp của tổ chức kinh doanh chứng khoán (khoản 3, Điều 73) sẽ có Nghị định riêng quy định về từng nội dung.

Về các từ ngữ chuyên ngành được quy định tại Điều 3 và được giải thích trong 45 khoản. Tuy nhiên, vẫn còn một số ý kiến băn khoăn. Cụ thể, tại khoản 21 điều này về tái cơ cấu doanh nghiệp, đại diện Công ty Cổ phần (CTCP) Chứng khoán VNDIRECT (VNDIRECT) cho rằng ban soạn thảo nên xem xét lại phạm vi của thuật ngữ “Tái cơ cấu doanh nghiệp” đã hợp lý chưa bởi thuật ngữ “tái cơ cấu” nên bao gồm cả việc chuyển đổi doanh nghiệp, mua bán nợ để đảm bảo thống nhất với khái niệm này trong các quy định liên quan đến doanh nghiệp Nhà nước chứ không chỉ là hoạt động hợp nhất, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp, bán tài sản… mà dự thảo Nghị định quy định. Đồng thời, VNDIRECT cũng kiến nghị đề xuất quy định về thay đổi quy mô vốn chủ sở hữu và các chỉ tiêu kinh doanh sau tái cấu trúc để xét duy trì điều kiện niêm yết hay các trường hợp phát hành. Hay như tại khoản 46, Điều 4 của Luật Chứng khoán quy định về “người có liên quan” là “người mà trong mối quan hệ với người khác trực tiếp, gián tiếp kiểm soát hoặc bị kiểm soát bởi người đó hoặc cùng với người đó chịu chung một sự kiểm soát”, thì theo đại diện CTCP Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HSC), dự thảo Nghị định chưa giải thích rõ, nêu rõ người có liên quan gián tiếp cụ thể là cá nhân, pháp nhân nào và mong muốn dự thảo sẽ bổ sung thêm vấn đề này.

Quy định về chào bán, phát hành chứng khoán và chào mua công khai. Về cơ bản, các nội dung này đều được kế thừa quy định từ Nghị định 58, 60 và Thông tư 162/2015/TT-BTC2. Ngoài ra có một số nội dung mới được sửa đổi, bổ sung như về vấn đề chào bán cổ phiếu để chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) thành CTCP. Về cơ bản, điều kiện và hồ sơ chào bán cổ phiếu ra công chúng để chuyển đổi công ty TNHH thành CTCP tương tự như hồ sơ chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng được quy định tại khoản 1 Điều 15 và khoản 1 Điều 18 của Luật Chứng khoán trừ báo cáo tài chính (BCTC) dùng để xác định điều kiện chào bán là BCTC của công ty TNHH. Dự thảo cũng điều chỉnh một số nội dung đã quy định tại Nghị định 58, 60 như quy định về chào mua công khai, bổ sung trách nhiệm tổ chức, cá nhân chào mua có nghĩa vụ công bố đầy đủ thông tin về tình hình sở hữu (trực tiếp, gián tiếp) cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi, chứng quyền, quyền mua cũng như các giao dịch, cam kết liên quan đến cổ phiếu, chứng chỉ quỹ của công ty mục tiêu, quỹ đầu tư mục tiêu. Quy định này nhằm minh bạch hóa thông tin, tạo sự công bằng cho các nhà đầu tư.

Đối với việc lựa chọn nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, theo CTCP Quản lý Quỹ VinaCapital (VinaCapital), việc xác định nhà đầu tư chuyên nghiệp đối với cá nhân quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 11 Luật Chứng khoán và điểm b, khoản 4, Điều 47 của dự thảo Nghị định quy định phải có xác nhận của công ty chứng khoán (CTCK) nơi nhà đầu tư mở tài khoản là chưa hợp lý và chưa phù hợp với thực tiễn trong khi có rất nhiều nhà đầu tư có giá trị lớn hiện đang là khách hàng của công ty quản lý quỹ (CTQLQ). Do vậy, quy định này cần được sửa đổi theo hướng: “Việc xác định nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp được giao cho tổ chức phát hành, CTQLQ, các CTCK hoặc các tổ chức tài chính trung gian cung cấp xác nhận theo yêu cầu của nhà đầu tư theo quy định của Luật Chứng khoán”. Đồng quan điểm với VinaCapital, đại diện CTCP Chứng khoán SSI (SSI) cũng mong muốn việc xác định nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp nên giao cho tổ chức tài chính trung gian (CTQLQ, CTCK), hoặc cơ quan quản lý và nên có một điều riêng trong dự thảo quy định về việc xác định nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp trên thị trường sơ cấp và thứ cấp để có thể áp dụng cho mọi trường hợp, thay vì quy định trong Mục 3 về Chào bán riêng lẻ như Dự thảo.

Về điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng phải có báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm về tổ chức phát hành của tổ chức xếp hạng tín nhiệm được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh… thì theo VNDIRECT, ban soạn thảo nên xem xét lại quy định này vì số lượng các công ty được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xếp hạng tín nhiệm còn rất hạn chế và là các công ty mới, chưa có kinh nghiệm và uy tín trên thị trường (năm 2018 mới có 01 đơn vị được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện xếp hạng tín nhiệm).

Về đại diện người sở hữu trái phiếu, một số ý kiến cho rằng Dự thảo Nghị định cần bổ sung quy định về đại diện người sở hữu trái phiếu phải được áp dụng cho tất cả các loại trái phiếu (trái phiếu thông thường, trái phiếu có bảo đảm, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền…).

Về tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán được quy định từ Điều 90 đến Điều 135 trong dự thảo Nghị định. Tại Dự thảo, các nội dung mới được giao quy định tại Luật Chứng khoán là về thành viên giao dịch, điều kiện niêm yết chứng khoán và việc phân bảng niêm yết. Cụ thể:

- Về điều kiện niêm yết chứng khoán: căn cứ theo khoản 4, Điều 48 của Luật Chứng khoán, dự thảo Nghị định quy định về điều kiện niêm yết tối thiểu trên SGDCK, trong đó bổ sung các tiêu chí định tính như đáp ứng quy định về QTCT, công bố thông tin và về tính tuân thủ pháp luật đối với các tổ chức phát hành. Ngoài ra, một số quy định cũ được sửa đổi bao gồm các quy định liên quan đến thành viên giao dịch của SGDCK Việt Nam; niêm yết của công ty hình thành sau quá trình tái cấu trúc; quy định về việc tham gia của nhà ĐTNN, tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN trên TTCK Việt Nam.

- Về tỷ lệ sở hữu nước ngoài trên TTCK Việt Nam: cụ thể là tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại công ty đại chúng (CTĐC) đang được quy định tại khoản 1, Điều 131 của dự thảo Nghị định, HSC cho rằng đối với CTĐC hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh thuộc ngành nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà ĐTNN hoặc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà ĐTNN hoặc ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện mà chưa có quy định cụ thể về sở hữu nước ngoài, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa là 100% thay vì 49% như trong dự thảo. Đồng quan điểm này, đại diện VinaCapital cũng cho rằng việc CTĐC không thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì sẽ được sở hữu nước ngoài lên đến 100%.

Cũng liên quan đến hoạt động của nhà ĐTNN, tại khoản 5, Điều 130, đại diện của SSI cho rằng nên bỏ cụm từ “…đại diện giao dịch, tổ chức kinh doanh chứng khoán cung cấp dịch vụ cho nhà ĐTNN…” mà chỉ nên để là “nhà ĐTNN phải tuân thủ các quy định pháp luật về tỷ lệ sở hữu nước ngoài khi tham gia đầu tư trên TTCK Việt Nam” bởi trách nhiệm tuân thủ tỷ lệ sở hữu trước tiên phải thuộc về bản thân nhà đầu tư và cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư trên TTCK Việt Nam. Mặt khác, SSI đề nghị được giải thích về mục đích của quy định tại điểm c, khoản 4, Điều 130: “nhà ĐTNN được lựa chọn một đại diện giao dịch tại Việt Nam đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau... là đại diện giao dịch duy nhất tại Việt Nam của nhà ĐTNN và được nhà ĐTNN ủy quyền bằng văn bản”, trong khi đó Điều 206 của dự thảo lại quy định người hành nghề phải làm việc tại CTCK, CTQLQ. Điều này có thể dẫn đến cách hiểu là nhà ĐTNN không thể ủy quyền cho đối tượng khác ngoài đại diện giao dịch tại Việt Nam. Về vấn đề này, VNDIRECT cũng mong muốn dự thảo Nghị định làm rõ đại diện giao dịch có thực sự cần thiết phải là người có chứng chỉ hành nghề chứng khoán hay không bởi theo khoản 47, Điều 4 của Luật Chứng khoán thì người hành nghề chứng khoán phải làm việc cho CTCK, CTQLQ điều này đồng nghĩa với việc người đại diện giao dịch phải là nhân viên CTCK, CTQLQ. Trong khi đó, quy định về đại diện giao dịch ở Việt Nam có thể được hiểu rằng người này không phải là nhân viên của CTCK, CTQLQ. Hơn nữa, nhà ĐTNN cũng có quyền ủy quyền cho tổ chức cá nhân khác thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán theo quy định của pháp luật dân sự mà người được ủy quyền không nhất thiết phải có chứng chỉ hành nghề.

Quy định về đăng ký chứng khoán; bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán; thành viên của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán (TCTLK&BTCK) Việt Nam; tổ chức mở tài khoản trực tiếp. Các nội dung này chủ yếu kế thừa các quy định tại Nghị định 58, 60, 86 và Thông tư 05/2015/TT-BTC3. Ngoài ra, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

Về cơ chế thanh toán theo mô hình đối tác bù trừ trung tâm CCP áp dụng đối với TTCK cơ sở: Dự thảo Nghị định bổ sung quy định về điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán, điều kiện trở thành thành viên bù trừ; quyền và nghĩa vụ của thành viên bù trừ và TCTLK&BTCK Việt Nam đối với hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán.

Về thành viên lưu ký: sửa đổi quy định liên quan đến thành viên lưu ký phải đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn cao hơn, đặt biệt về năng lực tài chính (vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn tài chính), đồng thời phải đóng góp vào quỹ bù trừ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán giao dịch.

Về ngân hàng thanh toán: hồ sơ, thủ tục lựa chọn ngân hàng thanh toán được sửa đổi theo hướng tinh giản hồ sơ, thủ tục và khắc phục những bất cập trong thực tiễn.

Liên quan đến các quy định về tỷ lệ an toàn tài chính, HSC đề nghị sửa đổi điểm a, khoản 3, Điều 138 về đáp ứng tỷ lệ an toàn tài chính thì hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu trên BCTC năm gần nhất của CTCK là 03 lần (dự thảo Nghị định đang quy định là 05 lần) bởi điều này phù hợp với thực tiễn hoạt động của các CTCK và Điều 189 của dự thảo Nghị định liên quan đến dịch vụ cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán.

Quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm đối với chứng khoán đã đăng ký tập trung tại TCTLK&BTCK Việt Nam được quy định từ Điều 159 đến Điều 163 tại Dự thảo Nghị định, bao gồm các nội dung: về đối tượng, phạm vi và nguyên tắc thực hiện; hồ sơ thủ tục thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm; quy định về việc xử lý tài sản bảo đảm; nhiệm vụ và quyền hạn của TCTLK&BTCK Việt Nam về hoạt động đăng ký biện pháp bảo đảm. Đây là những nội dung mới, được xây dựng trên cơ sở tham khảo Nghị định 102/2017/NĐ-CP4.

Tại điểm d, khoản 2, Điều 159 về đối tượng vi phạm và nguyên tắc thực hiện, có ý kiến cho rằng dự thảo Nghị định cần quy định rõ thời điểm xóa đăng ký biện pháp bảo đảm tại TCTLK&BTCK Việt Nam, điều này giúp xác định rõ thời điểm chấm dứt biện pháp bảo đảm, tạo điều kiện cho bên bảo đảm xác lập và thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm. Theo HSC, dự thảo cần sửa đổi điểm d, khoản 2, Điều 159 như sau: “Khi thực hiện xóa đăng ký… Thời điểm biện pháp bảo đảm hết hiệu lực là thời điểm TCTLK&BTCK Việt Nam ghi nhận việc xóa biện pháp bảo đảm khỏi sổ đăng ký”. Còn tại Điều 162 xử lý tài sản đảm bảo là chứng khoán đã đăng ký biện pháp bảo đảm, HSC cho rằng, việc xử lý tài sản bảo đảm là chứng khoán cần có sự phối hợp giữa Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), SGDCK, TCTLK&BTCK Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp chứ không chỉ là pháp luật dân sự, pháp luật chứng khoán và pháp luật khác như dự thảo Nghị định đã nêu. Vì vậy, theo HSC, nên ban hành Thông tư liên tịch của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và NHNN về vấn đề này. Đồng thời, HSC cũng kiến nghị nâng mức vốn điều lệ tối thiểu của các CTCK, CTQLQ được quy định tại khoản 1 và 3, Điều 165 bởi nếu có những CTCK, CTQLQ có năng lực tài chính tốt và chuyên môn nghiệp vụ cao, thị trường sẽ phát triển và lợi ích của nhà đầu sẽ được bảo vệ một các tốt nhất. Do vậy, HSC gợi ý sửa đổi như sau: “Vốn điều lệ tối thiểu cho các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK tại Việt Nam như sau: Môi giới chứng khoán 100 tỷ đồng Việt Nam (dự thảo là 25 tỷ đồng); Tự doanh chứng khoán 100 tỷ đồng Việt Nam (dự thảo 50 tỷ đồng); Bảo lãnh phát hành chứng khoán 500 tỷ đồng Việt Nam (dự thảo 165 tỷ đồng); Tư vấn đầu tư chứng khoán 50 tỷ đồng Việt Nam (dự thảo 10 tỷ đồng)” và “Vốn điều lệ tối thiểu của CTQLQ, vốn tối thiểu cấp cho chi nhánh CTQLQ nước ngoài tại Việt Nam 100 tỷ đồng Việt Nam (dự thảo 25 tỷ đồng)”. Còn tại khoản 1, Điều 161 cung cấp thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm, VNDIRECT có bổ sung thêm quy định về việc CTCK kể cả không liên quan cũng được quyền yêu cầu cung cấp thông tin về chứng khoán đăng ký bảo đảm tại TCTLK&BTCK Việt Nam.

Liên quan đến CTCK, CTQLQ, chi nhánh, văn phòng đại diện CTCK, CTQLQ nước ngoài tại Việt Nam đều được quy định tại Chương VI gồm 43 Điều (từ Điều 164 đến Điều 206) với 4 mục: (1) Trình tự thủ tục về cấp, cấp lại, điều chỉnh Giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động; (2) Hoạt động của CTCK, CTQLQ, chi nhánh CTCK, CTQLQ nước ngoài tại Việt Nam; (3) Tổ chức lại, tạm ngừng, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán, giấy chứng nhận hoạt động văn phòng đại diện; (4) Chứng chỉ hành nghề chứng khoán.

Ngoài ra, một số nội dung được sửa đổi như quy định chi tiết, điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận được quy định tại Điều 87 Luật Chứng khoán đối với CTCK bao gồm: Phối hợp với các tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán; Cung cấp dịch vụ cho vay chứng khoán; và Cung cấp hoặc phối hợp với các tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán. Đồng thời bổ sung các nội dung mới về chào bán sản phẩm tài chính và về giám đốc chi nhánh trong nước của CTCK, CTQLQ. Bên cạnh đó, một số quy định cũ cũng được điều chỉnh cho phù hợp hơn như một số thủ tục hành chính hiện hành được điều chỉnh theo hướng giảm bớt thời gian UBCKNN cấp, điều chỉnh Giấy phép, Giấy chứng nhận (giảm từ 20 ngày xuống còn 10 ngày làm việc), quyết định chấp thuận (giảm từ 15 ngày xuống còn 10 ngày làm việc). Đồng thời, giảm bớt hồ sơ mang tính nguyên tắc hoặc giấy tờ không thực sự cần thiết trong quá trình thực hiện hiện nay như hợp đồng thuê nhà nguyên tắc, bản sao giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu…

Về quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán được quy định tại Chương VII gồm 52 Điều (từ Điều 207 đến Điều 258). Nội dung của Chương này quy định về các loại quỹ, công ty đầu tư chứng khoán; việc cấp mới, cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và quy định về các tổ chức khác cung cấp dịch vụ chứng khoán như ngân hàng giám sát, ngân hàng lưu ký, đại lý phân phối và tổ chức định giá. Các quy định này chủ yếu được nâng cấp từ các thông tư của Bộ Tài chính hiện hành và phù hợp với thực tiễn triển khai. Các nội dung mới bao gồm việc sửa đổi quy định về thành viên góp vốn vào quỹ thành viên; đơn giản hóa hồ sơ theo hướng giảm thiểu thành phần hồ sơ; xác định đối tượng nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp theo hướng đề cao tính chuyên nghiệp, khả năng chấp nhận rủi ro, tăng cường tính tự giám sát, tự chịu trách nhiệm của các nhà đầu tư góp vốn.

Các biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn TTCK được quy định cụ thể tại Chương VIII với 2 mục và 8 Điều (từ Điều 259 đến Điều 266). Trên cơ sở quy định tại khoản 2, Điều 7, Luật Chứng khoán, dự thảo Nghị định quy định về các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn cho TTCK với các quy định cụ thể về các biện pháp giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn và ứng phó với các sự kiện, hành vi có thể gây mất an ninh, an toàn cho TTCK. Đồng thời quy định trách nhiệm của UBCKNN, SGDCK Việt Nam, TCTLK&BTCK Việt Nam và các tổ chức kinh doanh trong việc phòng ngừa, ngăn chặn và ứng phó với các sự kiện, hành vi gây mất an toàn, an ninh cho TTCK.

Về điều khoản thi hành và tổ chức thực hiện được quy định tại Chương IX từ Điều 267 đến Điều 269. Trên cơ sở rà soát thực tiễn thi hành và các quy định chuyển tiếp tại Điều 135 của Luật Chứng khoán, dự thảo Nghị định này đã bổ sung quy định chuyển tiếp đối với một số trường hợp cụ thể như sau: (i) Việc chào bán cổ phiếu trong thời gian thực hiện thủ tục hủy tư cách CTĐC, trong khi không đủ tư các CTĐC nhưng không bị hủy tư cách CTĐC theo điều khoản chuyển tiếp của Luật Chứng khoán; Việc xử lý cổ phiếu quỹ đã mua trước thời điểm Luật Chứng khoán có hiệu lực; Thời gian nộp hồ sơ hủy tư cách CTĐC đối với trường hợp CTĐC không đáp ứng điều kiện tại Luật Chứng khoán; Về hoạt động của SGDCK và các công ty niêm yết, đăng ký giao dịch; của TCTLK&BTCK Việt Nam; và Về hoạt động các thành viên lưu ký được phép tham gia hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán. Tại Điều 268 của Chương này về điều khoản chuyển tiếp, VNDIRECT có đề nghị bổ sung quy định chuyển tiếp liên quan đến yêu cầu về báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm đối với CTĐC chào bán trái phiếu ra công chúng. Theo đó, quy định quy định về báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm chỉ nên áp dụng sau 2 năm kể từ khi Nghị định có hiệu lực.

Hiện toàn văn dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán được đăng tải trên website của UBCKNN và vẫn tiếp tục lấy ý kiến góp ý của các cá nhân và tổ chức.

 

Các bài viết khác: