Skip to content
ssc.gov.vn
Diễn đàn chứng khoán
Những điểm mới của Nghị định 81/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 163/2018/NĐ-CP
262
15/08/2020

Ngày 9/7/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2020/NĐ-CP (Nghị định 81) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2018/NĐ-CP (Nghị định 162) ngày 4/12/2018 quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN). Nghị định mới sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163, cụ thể như sau:

Thứ nhất, bổ sung thêm khoản 4 Điều 3 về việc áp dụng các quy định pháp luật liên quan. Theo đó, các hành vi vi phạm về phát hành TPDN riêng lẻ của các tổ chức, cá nhân có liên quan bị xử phạt theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán, thị trường chứng khoán (TTCK) và quy định của pháp luật có liên quan.

Thứ hai, Nghị định 81 sửa đổi khoản 8 Điều 6 về giao dịch trái phiếu. Theo đó, TPDN phát hành tại thị trường trong nước bị hạn chế giao dịch trong phạm vi dưới 100 nhà đầu tư không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, trong vòng một năm kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành trừ trường hợp theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật. Sau thời gian nêu trên, TPDN được giao dịch không hạn chế về số lượng nhà đầu tư, trừ trường hợp doanh nghiệp phát hành có quyết định khác. TPDN phát hành ra thị trường quốc tế thực hiện theo quy định về giao dịch tại thị trường phát hành.

Thứ ba, về điều kiện phát hành trái phiếu, Nghị định 163 đã được sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 10 nhằm giới hạn quy mô phát hành TPDN riêng lẻ phù hợp với quy mô vốn của doanh nghiệp. Theo đó, Nghị định 81 đã đưa thêm điểm i, k và l tại khoản 1 Điều 10 yêu cầu đảm bảo dư nợ TPDN phát hành riêng lẻ tại thời điểm phát hành (bao gồm cả khối lượng dự kiến phát hành) không vượt quá 05 lần vốn chủ sở hữu theo báo cáo tài chính quý gần nhất tại thời điểm phát hành được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Ngoài ra, mỗi đợt phát hành phải hoàn thành trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công bố thông tin (CBTT) trước khi phát hành; đợt phát hành sau phải cách đợt trước tối thiểu 06 tháng, trái phiếu phát hành trong một đợt phát hành phải có cùng điều kiện, điều khoản. Tuy nhiên, theo điểm l tại điều khoản này, tổ chức tín dụng phát hành trái phiếu không phải đáp ứng tại điểm i và điểm k trên.

Thứ tư, hồ sơ phát hành trái phiếu được bổ sung thêm điều khoản về hợp đồng mua trái phiếu. Trong đó ghi rõ bao gồm cam kết của nhà đầu tư về việc đã tiếp cận đầy đủ nội dung CBTT trước khi phát hành TPDN và hiểu rõ các rủi ro khi mua trái phiếu. Đồng thời, doanh nghiệp phát hành TPDN phải thực hiện CBTT trước đợt phát hành cho các nhà đầu tư đăng ký mua trái phiếu và gửi nội dung CBTT cho SGDCK rút ngắn từ tối thiểu 10 ngày xuống còn 03 ngày làm việc trước ngày dự kiến tổ chức đợt phát hành trái phiếu.

Thứ năm, về mục đích phát hành trái phiếu tại điểm b khoản 1 Điều 14 nêu cụ thể thông tin về chương trình, dự án đầu tư; các hoạt động sản xuất, kinh doanh cần bổ sung vốn; các khoản nợ được cơ cấu (tên khoản nợ, giá trị, kỳ hạn nợ) bằng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu. Đối với tổ chức tín dụng nêu cụ thể mục đích phát hành để tăng vốn cấp 2 và/hoặc sử dụng để cho vay, đầu tư hoặc sử dụng cho mục đích khác.

Thứ sáu, Nghị định 81 quy định tổ chức phát hành bắt buộc phải ký hợp đồng tư vấn với tổ chức tư vấn về hồ sơ phát hành trái phiếu theo quy định tại khoản 3 Điều 15 của Nghị định này, trừ trường hợp doanh nghiệp phát hành là tổ chức được phép cung cấp dịch vụ tư vấn hồ sơ phát hành trái phiếu. Theo đó, tổ chức tư vấn phát hành phải có trách nhiệm rà soát việc đáp ứng các quy định về điều kiện phát hành và hồ sơ phát hành trái phiếu quy định tại Nghị định 81 cũng như các quy định pháp luật liên quan. Điều này sẽ tăng cường tính chuyên nghiệp và khả năng giám sát đối với phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp.

Thứ bảy, về CBTT, Nghị định 81 yêu cầu các doanh nghiệp phải thực hiện CBTT đầy đủ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Đối với việc CBTT định kỳ, Nghị định 81 sửa đổi quy định tại điểm b khoản 2 Điều 24: Đối với phát hành trái phiếu xanh, phải có báo cáo tình hình sử dụng vốn từ nguồn phát hành trái phiếu có ý kiến soát xét của tổ chức kiểm toán và báo cáo đánh giá tác động đến môi trường.

Thứ tám, sửa đổi, bổ sung Điều 30 về báo cáo của SGDCK về tình hình phát hành TPDN như sau:

- SGDCK thay vì thực hiện chế độ báo cáo định kỳ 06 tháng, một năm như trước kia thì nay sẽ phải báo cáo hàng tháng, hàng quý, năm về tình hình phát hành, giao dịch TPDN, gồm phát hành tại thị trường trong nước và phát hành ra thị trường quốc tế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

- Bên cạnh đó, Tổ chức lưu ký có trách nhiệm cung cấp thông tin cho SGDCK trong vòng 01 ngày làm việc sau khi hoàn tất giao dịch trái phiếu. Tổ chức lưu ký cung cấp thông tin định kỳ hàng tháng, hàng quý, năm về tình hình đăng ký, lưu ký trái phiếu cho SGDCK để SGDCK tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính.

- Tổ chức tư vấn phát hành trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo định kỳ 06 tháng và hằng năm cho Bộ Tài chính về tình hình tư vấn phát hành TPDN.

Thứ chín, sửa đổi khoản 1, khoản 2 Điều 36 về trách nhiệm của các tổ chức tư vấn phát hành, đấu thầu, đại lý, bảo lãnh phát hành. Theo đó, thực hiện cung cấp dịch vụ tư vấn phát hành, tổ chức đấu thầu, đại lý, bảo lãnh phát hành cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo hợp đồng cung cấp dịch vụ đã ký kết, theo quy định tại Nghị định này và pháp luật chứng khoán. Ngoài ra, rà soát việc tuân thủ quy định về giới hạn số lượng nhà đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều 4 và khoản 8 Điều 6 Nghị định này, quy định về điều kiện phát hành và hồ sơ phát hành tại Điều 10, Điều 11 và Điều 13 Nghị định này.

Các bài viết khác: